Sự trăn trở của Kẻ lười biếng (toàn văn)


NỀN GIÁO DỤC ĐỐI PHÓ

Tôi là một học sinh lớp 12. Ở Việt Nam thì đây là giai đoạn khắc nghiệt nhất trong đời mỗi học sinh. Và chính sự khắc nghiệt này sẽ khiến cho câu hỏi tích tụ qua bao tháng ngày dài sẽ đánh bật ra ngoài thành những quan điểm. Và thật là tiếc nếu những quan điểm đúng với thực tại mà không được nói lên, không được phản ánh. Bởi cái thực tại mà tôi nói lên ở đây nói về việc tôi và rất nhiều người khác đã, đang, sẽ, vâng, vẫn thực hiện hàng ngày, đó là đi học. Vì vậy tôi rất muốn có sự lắng nghe từ những ai quan tâm tới chuyện học hành và quan tâm tới chuyện giáo dục. Bởi với tư cách là một học sinh tôi thấy những gì mà chúng ta đang gọi là giáo dục đây hậu quả không hề tươi sáng với bất kỳ với thành phần trong xã hội.
Trước hết không có gì gọi là mới mẻ khi than vãn kiến thức thừa ở THPT hiện nay. Để phủ nhận toàn bộ những ý kiến cho rằng đây là lời kêu ca phàn nàn của một kẻ có bảng điểm bết bát như tôi, phải khẳng định luôn tôi không hề bài trừ hay ghét bỏ một môn học nào cả. Tất cả những kiến thức mà chúng ta đang phải học là những kiến thức mà chúng ta nên biết. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đó là một gia tài vô biên và vô giá của loài người. Nếu không có sự cống hiến và nghiên cứu của những người đi trước sẽ không bao giờ có cho chúng ta được cuộc sống tân tiến và hiện đại như ngày hôm nay.
Nếu chúng ta chối bỏ nó, những tri thức ấy, có nghĩa là ta tự phủ nhận đi nguồn gốc của mình, ta tự tay bóp chết tương lai của nhân loại. Tuy nhiên, những kiến thức đó nó cần thiết ở mỗi mức độ nào đối với mỗi người thì lại là một vấn đề khác.
Con người ta sinh ra là khác nhau, tại sao tất cả lại phải hát triển theo cùng một hướng giống nhau? Đồng ý rằng anh phải biết đọc, biết viết, biết cộng trừ nhân chia, biết rất nhiều thứ, những thứ được gọi là kiến thức phổ thông để làm nền tảng cho một cá nhân trước khi bước vào cuộc sống tự lập. Nhưng có lẽ chăng chúng ta quy quá nhiều kiến thức vào hai chữ "cơ bản"?
Nếu có người hỏi tôi kiến thức đến lớp mấy là "cơ bản"? Với tôi lớp nào cũng có những kiến thức cần phải học cơ bản cần phải học. Nhưng song hành với chúng lại có quá nhiều thứ chẳng cơ bản và chẳng cần thiết chút nào.
Nếu có người hỏi tiếp, thế học đến lớp mấy mấy thì đủ? Lớp 9 là câu trả lời. Nhưng đủ của cái gì? Tại sao lại là lớp 9? Bởi vì tôi tin rằng ở độ tuổi 14, 15 nhiều người đã đủ nhận thức được khả năng và xác định được mục tiêu và xứng đáng được chọn lối đi riêng. Có những mục tiêu không cần người theo đuổi phải nắm toàn bộ kiến thức THPT hiện nay. Có người muốn làm lập trình viên. Người muốn làm đầu bếp nhà hàng. Người muốn làm giám đốc ngân hàng, muốn làm thiết kế thời trang, người muốn làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục..., vô vàn các nghề. Đâu phải nghề nào cũng cần biết đến phương trình chuyển động của chất điểm! Và nếu về sau anh làm một kỹ sư vật lý liệu có cần phân tích hình tượng nghệ thuật trong một bài văn? Nếu về sau anh làm một nhà văn liệu có cần dùng đến công thức tính tần số alen hay là ghi nhớ một loạt danh pháp và phản ứng hoá học của một loạt các thể loại ankan, anken, ankin, ancol, andehit..... abcxyz? Với những hiểu biết hèn mọn của mình tôi không tin rằng có một nghề nào cần đến toàn bộ kiến thức THPT cả. Giáo viên hay giáo sư cũng chỉ đi theo một vài chuyên môn của mình, kiến thức liên ngành rộng đến đâu cũng tùy vào tầm của anh. Vậy mà học sinh lại phải đáp ứng toàn bộ bài tập và bài học của hơn một chục môn học như vậy hàng tuần thì phải làm thế nào?
Biết nhiều thì cũng tốt thôi, nhưng để làm gì? Làm bài tập, làm kiểm tra, làm bài thi. Thi đỗ rồi thì làm gì với chúng nữa? Nếu không làm được gì có ích cho bản thân thì cuối cùng anh học để làm gì? Đánh giá nhau không quan trọng ở việc anh biết được bao nhiêu, mà là anh làm được bao nhiêu với những gì anh biết? Học lý thuyết lượng tử ánh sáng mà không mắc được cái bóng đèn thì học làm gì? Học về phương pháp lai phân tích, quy luật di truyền mà trồng một cái cây không lớn nổi thì học làm gì?
Kiến thức chỉ có ích khi áp dụng vào thực tiễn, dù là lao động trí óc hay lao động chân tay. Học phải đi đôi với hành. Có hành thì mới có hứng. Không đủ điều kiện để hành mà cứ phải học thì chỉ có hại. Học phải có mục đích, mỗi bài học phải tỏ rõ được vai trò của nó đối với cuộc sống của 100% học sinh. Và cho đến giờ tôi không nhớ có lần nào giáo viên có thể đề cập được đến mục đích thực dụng của tiết học hôm đó, trước khi đi vào bài giảng. Không thể nói là hãy cứ học đi, chưa đủ trưởng thành nên phải học tiếp, tiếp, tiếp mới chọn được con đường cho mình. Nếu coi đây là một giai đoạn để thích nghi và lựa chọn cho tương lai thì tại sao tất cả điểm số là một gánh nặng do phụ huynh và thầy cô luôn đòi hỏi phải cân bằng được tất cả các môn như thế?
Kiến thức SGK thì toàn lý thuyết thiếu thực tiễn, nhiều chỗ mang tính chất hàn lâm đem đến cho số đông học sinh mà đâu phải ai cũng đầy đủ năng lực, điều kiện và niềm yêu thích. Quỹ thời gian thì không đủ, nhiều bạn trẻ thức thâu đêm học bài, như thế chỉ tổn thọ chứ chẳng được cái lợi lộc gì. Giáo viên nào thông cảm thì lại dạy cho có hình thức, học sinh như thế lại thiếu tôn trọng môn học, và gián tiếp ảnh hưởng đến tinh thần đối phó trong công việc. Làm như thế mà mong có một tương lai sáng lạn. Rất là thê thảm!
Ai cũng phải thừa nhận rằng trong một cộng đồng cần có người giỏi ở lĩnh vực này, người khá ở lĩnh vực kia. Trong một cộng đồng mỗi người làm tốt chuyên môn của mình và chúng ta cộng cho nhau để tất cả lĩnh vực ngành nghề được phát triển đồng đều một cách tốt nhất. Không cần đến một thế hệ toàn những con người được đào tạo bài bản tất cả các kiến thức, lượng giác tích phân đủ các loại định luật đủ các loại chất đủ các loại tác phẩm văn học rồi đến khi hỏi thì nhiều người không biết mình sẽ làm các công việc gì, mong muốn đạt được những điều gì, mục đích sống trên đời là để làm gì? Rồi đến khi vào đại học, thì tùy những trường khác nhau mà những kiến thức khác nhau, thứ mà chúng ta đã bỏ 3 năm trời ra để mà nhồi nhét nó dần trở nên vô dụng do học sinh lãng quên.
Vì sao quên? Có phải vì chẳng bao giờ dùng đến? Không. Không bao giờ dùng đến nhưng học để biết thì vẫn nhớ được. Thế có phải vì vượt quá dung lượng bộ nhớ cho phép nên nó tự đào thải? Cũng không. Một khi ta đã muốn nhớ thì không bao giờ bị đào thải. Quên vì đa phần chúng ta không học để mở mang hiểu biết cho bản thân mình. Ngay từ khi bước chân vào lớp Một chúng ta đã lao theo cuộc đua của những điểm số, thành tích, danh hiệu và xếp hạng. Mười hai năm học là 12 năm chạy đua với các kỳ thi bao và kiểm tra. Kiểm tra miệng 15 phút, 45 phút, học kỳ 1, học kỳ 2, cuối năm, thi tốt nghiệp, thi chuyển cấp, thi vào, thi ra, thi lên, thi xuống...
Cái mục đích cao cả của việc học là để trang bị cho người ta năng lượng sống, năng lực tự học để có thể học tập và nghiên cứu cả đời thì bây giờ nó đã biến dạng thành một mục mục tiêu khác: học để thi! Chúng ta đang học để thi. Học để kiểm tra. Học vì đơn giản ai cũng làm như thế. Học để không bị tách rời khỏi số đông. Làm theo số đông để cảm thấy mình được an toàn. Học để có được một cái bằng, để người ta nhìn mình với con mắt bao dung hơn. Hay nói cách khác học để đối phó với cuộc đời này mà không hề có một niềm đam mê. Người ta bảo học gì học nấy, làm thế nào làm thế nấy. Nay kiểm tra môn này, mai kiểm tra môn kia. Cắm đầu vào mà đối phó. Đó là học thụ động. Tư duy thụ động chỉ có làm nô lệ mà thôi. Trong khi chúng ta, theo cách mà người ta vẫn hay gọi là những chủ nhân tương lai của đất nước.
Chính cách giáo dục này đã tạo tiền đề cho tính cách đối phó được hình thành và phát triển nên thói quen trong cả suy nghĩ lẫn hành động.
Trước tiên phải nói thế nào là đối phó. Đối phó là một biểu hiện đặc trưng điển hình của sự bị động. Nó thể hiện vị thế bị động của cá thể trước các tác nhân không mong muốn. Sự đối phó sẽ xuất hiện khi ta cảm thấy hay lường trước một nguy cơ sẽ hoặc đang ảnh hưởng xấu tới mình. Đối phó tồn tại hai mặt có ích và có hại. Khi nó giúp chúng ta sinh tồn, chống lại, chiến đấu với các mối đe dọa ở nhiều mặt, thì kết quả cuối cùng mang lại sẽ cải thiện được cuộc sống của ta, đó là có ích. Nhưng nó sẽ có hại khi trở thành bản chất, trở thành người bạn đời chung thủy trong lối sống, nó biến ta thành kẻ bị động trong mọi vấn đề của xã hội. Nếu không nhận thức được rõ nó rất dễ bị chi phối.
Có lẽ ai cũng biết rằng cái cách mà chúng ta đang học ở trường cũng chỉ là đối phó. Ở đây tôi không nói đến việc mang phao vào trước mỗi giờ kiểm tra, bởi đó là điều hiển nhiên, tất yếu. Điều tôi muốn hỏi những ai là học sinh: Nếu sáng mai không kiểm tra thì tối nay bạn có mở sách ra để học không? Nếu mai được nghỉ mà ngày kia cũng chẳng kiểm tra môn gì thì bạn có mở sách ra để đọc không? Nếu không có bất cứ một khái niệm nào về thi cử, bạn có mở sách ra để làm giàu cho bản thân mình không? Nếu có thì rất tốt, bởi cuộc đời này cần đến những con người như bạn. Còn nếu không thì bạn cũng giống như tôi và tuyệt đại đa số đều học để đối phó với các kỳ thi.
Chúng ta đều tạo điều kiện cho tính đối phó được ký sinh trong nhân cách, trong lối sống của mình. Như một cơn mưa dầm thấm lâu và nếu bị cảm nặng thì có lẽ cả đời làm gì cũng sẽ chỉ làm hời hợt cho qua, không bao giờ toàn tâm nghiêm túc với công việc được giao. Có rất nhiều biểu hiện từ nhỏ đến lớn trong đời sống hàng ngày mà nếu hiểu rõ bản thân ta đều có thể nhận ra. Thật đáng sợ nếu một ngày kia ta lại đối phó với chính lĩnh vực mà mình đã từng đam mê, đã từng yêu thích. Nhưng xét cho cùng thì biết làm sao được! Đó là hệ quả tất yếu của những kỳ kiểm tra liên miên cộng với đống kiến thức nặng nề và đặc biệt là những đòi hỏi về điểm số thành tích đến từ cả gia đình và nhà trường.
Nhìn mặt ai cũng sáng sủa thế thôi, nhưng thực sự giáo dục đã biến phần nhiều học sinh trở thành những con lừa lười biếng và dối trá, phải đánh, phải thúc, phải ép mới chịu đi. Sẽ như thế nào khi đây là viễn cảnh của những con người sẽ phục vụ đất nước trong tương lai? Vì khi đó chúng ta không đối phó với giáo viên, với nội quy mà chúng ta đối phó với tất cả mọi thứ.
Người ta vẫn hay nói "học thì ấm vào thân". Không thể phủ nhận câu này. Thậm chí tính xác đáng của nó còn thể hiện trong từng từ ngữ, đặc biệt là từ "ấm". Không những là một nghệ thuật tu từ, nó còn chỉ ra một cảm giác có thực. Có những lúc sau một thời gian dài tụt dốc, bắt đầu lo lắng, bạn thấy chuyên tâm hơn vào môn mà bạn không thích vì bạn sợ bị trượt, và đến lúc mà bạn giải được một bài toán mà cách đây mấy ngày bạn đọc còn không hiểu được đề bài thì bỗng nhiên có một cảm giác nào đó nó vui vui, có thể nói là "ấm áp", nó lan tỏa khắp cơ thể. Bạn cảm thấy thoải mái với môn học này hơn, và những ý nghĩ về sự đáng ghét chắc không còn, thay vào đó bạn khoái chí với bản thân mình khi mỗi lúc lại thêm được nhiều bài tập. Nhưng rốt cục, cái cảm giác ấm áp đó xuất phát từ đâu? Nguồn gốc sâu xa của nó là cảm giác bạn được an toàn trước mỗi bài kiểm tra, trước mỗi kỳ thi. Nó khác với sự hưng phấn mà chúng ta có được khi đánh được một bản nhạc yêu thích trên cây đàn của mình sau một thời gian dài luyện tập. Cái sự ấm áp đó giống như ta vừa dựng được túp lều bé con để bảo bọc cho mình trước sự khắc nghiệt trên hòn đảo mà ta ghét cay, ghét đắng. Thế thì đó là gì nếu không là một biểu hiện khác của sự đối phó? Trừ khi môn học đó trở thành một trong những niềm đam mê yêu thích của bạn. Có lẽ nhiều người không còn để ý rõ sự khác biệt của cảm giác đạt được điều mình muốn, so với cảm giác làm được điều người ta muốn mình phải làm được. Thế nên nhiều khi chúng ta cứ làm việc mà quên đặt ra những câu hỏi. Có những người bằng lòng với sự đều đặn ấy đến mức chỉ lo ăn học và kiểm tra mà không hề nghĩ đến công việc cho tương lai. Có những người đi trước đã vượt qua các kỳ thi cũng không hề ngoảnh lại nhìn để trả lời một cách thỏa đáng những tích cực, những hạn chế cũng như những sự cần thiết của kiến thức ấy đối với cuộc đời họ. Và hậu thế lại mãi mãi tiếp nối con đường như vậy.
Tôi lại muốn đặt ra một câu hỏi: Thi cử là cái gì mà con người ta lại phải đối phó với nó? Trong tình huống buộc phải đối mặt thì chúng ta lại đối phó. Thi cử có phải là bắt buộc? Có. Không thi thì làm sao có điểm? Làm sao có bằng? Làm sao được vào trường, ra trường? Không thi thì làm sao có thể thi tiếp?
Bản chất của một cuộc thi là tìm ra ai là người chiến thắng. Là sự tranh đua giữa những con người có chung một niềm đam mê, một niềm toàn tâm mong muốn được thể hiện bản thân và khát khao được về đích với vị trí thứ nhất. Còn thi cử trong học hành ngày nay là xem ai có thể vuốt mồ hôi mà thở phào nhẹ nhõm. Một đằng hoàn toàn chủ động, một đằng gần như bị động.
Vậy ý nghĩa của giáo dục có phải là đẩy con em thế bị động, vào sự căng thẳng, mệt mỏi sau mỗi kỳ thi, mỗi ngày lên lớp? Thay vì ảo tưởng mỗi khi giáo viên lên giảng bài học sinh hào hứng giơ tay đóng góp thì thực tế học sinh chỉ sung sướng khi được thông báo nghỉ học. Người ta hào hứng để chờ đợi tham gia các cuộc thi khác bao nhiêu thì học sinh lại phát ớn trước mỗi kỳ thi bắt đầu bấy nhiêu.
Tại sao chúng ta lại sợ nó đến vậy? Điểm số chính là nguyên nhân! Điểm số là một khái niệm đầy bất cập. Trước hết ta tạm chấp nhận nó như một chiếc thước minh bạch và sáng suốt để đo cái gọi là trình độ của con người. Tạm chấp nhận nó đại diện cho lý tính, tài giỏi thì điểm cao, dốt nát thì điểm thấp, trắng đen rạch ròi. Nhưng không! Để phủ nhận cho chính lý tính đó, thì hiện nay, thậm chí từ trước đến nay điểm số luôn dính dáng phần nào đến cảm tính. Nó có thể được nâng lên nâng xuống, được trừ một, được cộng hai. Nó có thể trở thành công cụ bày để người ta bày tỏ tình thương, để thể hiện lòng từ bi, chiếu cố, hay thậm chí để đem ra dọa nhau. Cho nên điểm cao cũng có thể đạt được bằng gian lận mà thôi.
Vậy thì chiếc thước này đã mất đi tính chất thứ nhất, đó là minh bạch. Và chúng ta đều biết rằng chỉ số IQ chỉ là một phần nhỏ để nói đến trình độ một cá nhân. Bên cạnh đó một bài kiểm tra luôn phụ thuộc vào tâm trạng tức thời và vốn hiểu biết tức thời của người chấm điểm. Vậy thì cớ gì mà điểm số còn giữ được tính sáng suốt của nó? Thêm nữa, điểm số bản thân nó đã là công cụ để phân loại con người, hiển nhiên sẽ phát sinh sự bất bình đẳng, sự tự phụ, sự tự ti, sự tị nạnh, cạnh khóe. Và đó là điều không đáng có ở bất kỳ đâu, đặc biệt là bậc tiểu học. Tóm lại là nó không minh bạch, không sáng suốt, nó chẳng có gì tốt đẹp. Chúng ta cuống cả lên để chạy theo một thứ giá trị hão mà tưởng rằng là đang khẳng định bản thân mình. Mà nếu lúc nào cũng lăn tăn hơn thua ba thứ điểm cao thấp như vậy thì có lẽ cuộc sống sẽ luẩn quẩn trong những thứ đơn điệu vô vị đến thế mà thôi.
Bệnh thành tích từ đâu mà ra? Sẽ không có bệnh thành tích khi người ta không biến bằng cấp thành tiêu chuẩn của quy chế để xét tuyển. Muốn không như thế ta phải cắt bỏ cái gốc, cái rễ, nghĩa là cắt bỏ thành tích. Muốn cai nghiện đương nhiên phải ngừng cung cấp thuốc cho con nghiện. Người ta đánh giá nhau chủ yếu qua bằng cấp mà không phải đánh giá bằng chính năng lực. Đó không chỉ là tâm lý chung mà còn là quy định chính thức ở nhiều nơi.
Vậy thì nhân đây tôi cũng nói luôn. Xét trong một chuyên môn hay một ngành nghề, hay một cơ quan, chỉ có những thằng ngu mới không biết thằng nào là thằng giỏi. Một người tài giỏi khi đứng ở vị trí lãnh đạo sẽ biết dùng óc quan sát và năng lực của chính bản thân để đánh giá năng lực của người khác. Còn một thằng ngu sẽ phải dựa dẫm vào những địa vị, bằng cấp, học hàm để mà tuyển dụng nhau. Vậy thì chúng ta còn tiếp tay cho những thằng ngu làm cái gì? Hay chúng ta lại muốn tiếp tay cho những thằng tham ô, hối lộ?
Không muốn có bệnh thành tích, ta phải cắt bỏ bệnh thành tích. Với tư tưởng đó xét trong phạm vi nhà trường thành tích chính là điểm số. Đừng tạo ra những điểm số. Đi học mà không có điểm đương nhiên nghe có vẻ điên rồ. Nếu không dựa vào điểm thì lấy gì làm chỉ tiêu cho đánh giá. Với tôi điểm số có cũng được nhưng đừng quan trọng hóa nó. Điểm số thực chất chỉ là kết quả của một bài kiểm tra mà ở trường, ngoài môn thể dục, thì một bài kiểm tra được định nghĩa là tập hợp những câu hỏi có tính hệ thống. Những câu hỏi này đặt ra luôn có sẵn đáp án, câu trả lời cố định để tính điểm. Người nào trả lời đúng vào cái đã có sẵn thì được điểm. Không trả lời đúng cái đã có sẵn, không điểm. Như vậy điểm số rõ rang chỉ thể hiện năng lực ghi nhớ những thứ đã được học mà không nói lên được những năng lực khác, thậm chí không kiểm chứng được việc anh có hiểu những gì mà anh nhớ hay không. Và vì điểm số mà người ta sẽ tìm ra nhanh nhất câu trả lời có sẵn vào bài kiểm tra bao gồm các hình thức học tủ, học vẹt, và gian lận. Làm như thế này không hề mang tính nghiên cứu và sáng tạo. Nó đã và đang xảy ra ở hầu hết các môn trong trường học, ở các thái cực khác nhau. Thậm chí những môn khoa học tự nhiên, tưởng như nó đòi hỏi tư duy logic rất cao nhưng cũng đã trở thành những môn học thuộc lòng các công thức để mà áp dụng vào giải bài tập. Bây giờ anh không muốn học để thi, anh không muốn học thuộc bảng quy tắc lượng giác, rồi anh không làm được bài tập, cuối cùng anh lại bị đánh giá là yếu kém về tư duy. Thế thì quá mỉa mai và không đời nào tôi ủng hộ. Một khi đã có điểm người ta sẽ chỉ học vì điểm.
Hãy để cuộc đời cho điểm mỗi cá nhân, nâng tất cả lên cao rồi sẽ biết ai là người có đôi cánh.
Năng lực thì rất đa dạng. Trong xã hội có bao nhiêu hoạt động thì có bấy nhiêu loại năng lực. Nói chung muốn đánh giá hãy nhìn sự tồn tại của cá nhân đó, ảnh hưởng sự tồn tại của cá nhân ấy đến xã hội và môi trường xung quanh. Nhưng ảnh hưởng đó là gì? Là công việc, là mọi hình thức tác động của họ lên đời sống xung quanh, thông qua quá trình sinh hoạt cá nhân và tương tác với tập thể, là giá trị của những sản phẩm họ tạo ra ở mọi lĩnh vực, từ vật thể đến cho phi vật thể. Sản phẩm có sự ảnh hưởng càng lớn có giá trị càng cao, không có ảnh hưởng là đồ vô dụng. Để trở thành một cá nhân có giá trị và có ích cho cộng đồng anh phải tạo ra các sản phẩm có giá trị. Mà những thứ có giá trị ảnh hưởng không bao giờ là những thứ có sẵn bày ra cho ta thấy như đáp án trong bài kiểm tra.
Con người ta khác cỗ máy ở chỗ nào? Chúng ta lập trình cho một phần mềm toán học thì chiếc máy tính này có thể tính được mọi phép tính nằm trong phạm vi nó được khoanh vùng. Ta đưa vào càng nhiều khái niệm toán học, càng nhiều phương pháp giải cho phần mềm thì phạm vi hoạt động của nó càng rộng lớn. Nhưng đến phút cuối cùng nó vẫn chỉ là một chiếc máy tính không hơn không kém! Một công cụ lao động nô lệ cho con người! Đâu là sự khác biệt giữa một con người tự do và một cái máy nô lệ? Đó chính là khả năng đi tìm tòi khám phá những thứ mới mẻ mà không đợi ai viết ra cho mình. Thế mà thật là kỳ lạ! Từ khi nào mà những con số này đã quyết định cuộc đời tôi? Tôi không chọn học những thứ đó. Tôi không có nhu cầu đạt điểm cao những thứ đó. Rõ ràng là tôi đủ sáng suốt để nhận ra sự vô bổ của nó tác động tới vốn thời gian của mình như thế nào? Tôi muốn bước đi trên một xa lộ. Tại sao lại cứ lôi tôi chạy vào trong các con ngõ nhỏ để rồi phải vòng vèo mãi mới quay trở lại đường cái, khi lốp đã mòn và khi gót đã già nua?
Sẽ có những người lôi những tấm gương học tập ra mà nói. Người ta làm được thì không có lý gì chúng mày không làm được. Thứ nhất, những người làm được điều đó là số ít. Chúng ta không thể lấy số ít ra bắt số nhiều làm theo. Không thể lấy cái cá biệt áp dụng cho toàn thể. Con người ta sinh ra là khác nhau. Mục tiêu phấn đấu cũng khác nhau. Thứ hai, sự cố gắng đó thường có ở những con người tự nhận thấy rằng đó là lối thoát duy nhất để giúp cho họ vượt qua hoàn cảnh hiện tại mà không muốn sống mãi với nó. Thế còn nếu trước mặt họ có một màn hình máy tính thì rõ ràng có nhiều hơn một sự lựa chọn trong tay. Thật là vô lý khi chúng ta phải tốn thời gian vào việc vô ích. Thứ ba, không phải chúng ta không làm được. Chúng ta đều có thể làm được như những tấm gương kia bởi khả năng của con người là vô hạn. Thậm chí rơi vào hoàn cảnh càng ngặt nghèo khó khăn thì con người ta càng làm được những điều phi thường. Lịch sử và khoa học đã chứng minh được điều đó.
Đúng là không có lý gì mà chúng ta lại không làm được! Nhưng vì cái lý gì mà chúng ta phải làm cho bằng được? Học với cái kiểu này thì điểm cao cũng đâu có chứng minh được cái gì với thiên hạ? Ba cái điểm số với thành tích học tập chẳng bao giờ có thể nói lên được bộ não của một con người. Không nói đến chuyện anh có gian lận hay không! Nhưng giả sử với một người được điểm 9 toán bằng thực lực đi, khi được hỏi bản chất của đạo hàm là gì chưa chắc đã trả lời được trong khi vẫn làm được bài khảo sát hàm số nhanh như chớp.
Đó là thực trạng. Đó là phần lớn. Bởi học để thi nên giáo dục chỉ tạo ra những cái đầu chỉ biết làm theo những cái gì người ta cho mà không cần hiểu. Đó là những con người chỉ biết tính theo những công thức có sẵn được học để làm cho xong bài tập mà không bao giờ để trở thành người tìm được ra công thức. Nó thụ động là thế. Nó thiếu chủ động là thế. Đó là vì sao TS Phạm Anh Tuấn nói với lối dạy áp đặt nhồi sọ, học vẹt, học... thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ cung ứng được cho xã hội những cá nhân giỏi chuyên môn thật đấy song mang tư cách của kẻ nô lệ.
Giáo dục phải đem lại cho con người ta năng lực tự học, tự nghiên cứu. Không phải đem lại một mớ kiến thức, một đống đề luyện để mà đi thi. Thực chất người làm giáo dục cũng chỉ muốn thế hệ nối tiếp có được một vốn kiến thức vững vàng sâu rộng để đóng góp thật nhiều cho đất nước từ lĩnh vực kinh tế, chính trị cho đến khoa học kỹ thuật, nghệ thuật. Nhưng có lẽ cũng chính vì thế mà nó phát sinh tâm lý thừa còn hơn thiếu ở người viết sách chăng? Có lẽ chúng ta muốn học sinh có kiến thức toàn diện nhất ở mức có thể qua những quyển sách giáo khoa. Thừa thì đương nhiên là tốt hơn thiếu. Và kiến thức thì nó luôn thú vị theo nhiều cách. Nhưng chúng ta lại quên mất một điều rằng, phần thừa hãy để dành cho những người có hứng thú có đam mê. Khuyến khích thái độ ham tìm tòi học hỏi một cách tự giác, từ thiếu cho đến thừa, phải có một mức ở giữa dành cho tất cả mọi người. Một cái ngưỡng thực sự là cơ bản bao gồm những kiến thức, những kỹ năng, những lối sống mà ai cũng cần phải nắm vững trong cuộc sống này, bất kể anh chọn con đường nào để đi. Cơ bản không có nghĩa 1 + 1 = 2. Kết thúc một chương trình học cơ bản cũng phải đồng nghĩa với việc anh phải chứng minh anh là người văn minh, có văn hóa. Mà học hết lớp 12 hiện nay ra ngoài đường chưa chắc đã được gọi là có văn hóa đâu, tuy rằng người ta vẫn quan niệm học ở trường là học văn hóa. Và cơ bản cũng phải là học chắc kiến thức cơ bản chứ không phải là học những kiến thức cơ bản một cách không đến nơi đến chốn. Học bao nhiêu tác phẩm văn học đỉnh cao rồi mà thỉnh thoảng vẫn thấy có người phải chữa lỗi chính tả rất ấu trĩ. Cái móng không chắc thì làm sao xây được nhà? Cuối cùng chẳng có gì ra hồn.
Mà thực sự là mâu thuẫn rất nhiều. Kiến thức thì mang tính hàn lâm lại đem đi kiểm tra học sinh một cách rất bắt buộc.Chính sự bắt buộc này nó lại khiến cho vẻ đẹp của tri thức nó trở nên xấu đi trong mắt rất nhiều người. Tôi sợ học toán, tôi ghét học văn, tôi không thích các môn tự nhiên, tôi chẳng ưa các môn xã hội. Các nhà văn nhà thơ quá cố đến giờ còn sống hẳn phải xót xa khi thấy chính những đứa con tinh thần của mình chỉ vì do lối giáo dục gượng ép đã vô tình đẩy học sinh ra xa của văn chương như thế nào! Tự tay chúng ta dập tắt tinh thần hiếu học khi khiến học sinh quay lưng với tri thức. Và như vậy học rất nhiều nhưng chẳng mấy ai thích học. Và như vậy thay vì ảo tưởng là nhân dân càng ngày càng chăm học thì nhân dân càng ngày càng lười học. Chúng ta bắt học sinh học tất cả, nếu không thi trượt sẽ không có bằng. Vai trò sức mạnh của bằng cấp trong xã hội ngày nay là nguyên nhân khiến cho người ta học để thi. Kiến thức nặng nề là nguyên nhân khiến cho người ta phải đối phó. Có người nói quá trình thi cử là một thử thách giúp các em rèn luyện ý chí nghị lực vượt qua khó khăn để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Nhầm to!
Thử thách nghĩa là phải chịu khó, chịu khổ. Học mà còn thấy khổ thì cái gì mới là không khổ? Người ta đi học là để giải quyết nỗi khổ, không phải để rước nó vào thân. Chúng ta hoàn toàn nhầm khi nhắc đi nhắc lại câu phải chịu khó. Tại sao lại phải chịu khó? Con người ta khi học phải thấy sướng. Phải thấy thích học khi được tiếp thu tinh hoa bí kíp. Người ta phải thấy hạnh phúc khi được chiếm lĩnh tri thức. Ai còn nhớ ngày bé chúng ta cảm giác hào hứng vồ vập phấn khởi như thế nào khi được cầm trên tay cuốn sách quyển truyện mà bố mẹ mang về sau mỗi giờ đi làm? Càng lớn dần lên thì niềm ham thích tìm tòi hiểu biết nó đã mai một dần rồi. Chỉ vì học!
Hơn nữa một kỳ thi sẽ là rèn luyện ý chí nghị lực ở những người có đam mê. Còn những người không có đam mê sẽ là rèn luyện khả năng học thuộc lòng, học tủ, và sự luồn lách, dối trá. Cạnh tranh lành mạnh là chuyện phù phiếm. Đã cạnh tranh thì không bao giờ có chuyện lành mạnh, nhất là khi chúng quá đông! Chính những kỳ thi góp phần chặn lối tương lai. Ai cũng phải cố bằng mọi cách để mà vượt qua! Tuy rằng một kỳ thi không nhiều thì ít cũng cho điểm một cái gì đó của người đi thi. Nhưng những nội dung thi mới là quan trọng thì vô bổ! Tốt nhất là nên bỏ đi. Vì ở đây tôi dùng từ hại não. Chính vì cái sự nhọc nhằn này nhiều người coi đỗ đại học là cái đích của cuộc đời. Đến khi đạt được rồi thì bắt đầu buông thả. Coi như là sự trả đũa cho 12 năm gò lưng trâu bò vô tội vạ. Chính chúng ta tự dồn mình vào thế bị động. Phải đối phó, dối trá, và lười biếng. Tất cả là để hướng đến một tương lai tốt đẹp. Nhưng hãy mở to mắt ra mà nhìn cái nền giáo dục nát bét dưới chân!

GIÁO DỤC KHÔNG PHẢI ĐỂ HỌC SINH THI ĐỖ MÀ ĐỂ HỌ NÊN NGƯỜI

Nhân cách, giá trị của một con người có thể nói là được cấu thành bởi 2 yếu tố: tri thức và đạo đức. Nhà trường phải là cái nôi trau dồi, bồi dưỡng cả về tri thức lẫn đạo đức đối với học sinh. Bàn về đạo đức, thực sự không thể đổ lỗi hết cho gia đình khi một đứa trẻ tỏ ra vô lễ. Bởi trẻ em không có quyền chọn cha mẹ, may thì được nhờ, rủi thành chịu, cha mẹ không tốt, không dạy được con, nhà trường phải là nơi làm điều đó. Trong gia đình những thứ tình cảm như tình mẫu tử, tình phụ tử ta đều tìm thấy được ở động vật bậc thấp. Nhà trường phải là nơi giúp các em thành người. Đạo đức rất quan trọng.
Nếu tri thức là một cỗ xe thì đạo đức là cái vô-lăng, nếu tri thức là chiến mã thì đạo đức là dây cương. Với đạo đức, tri thức sẽ hướng thiện. Một người không có tri thức cùng lắm là gây hại một cách vô ý. Một người không có đạo đức thì cố ý hại người khác thì tạt axit, thì tấn công bằng bom nguyên tử.
Nền tảng đạo đức được hình thành rất sớm từ những năm tháng đầu đời, nó có khuynh hướng trở thành bản chất cố định, khó thay đổi. Chính vì vậy, phải giáo dục cho học sinh về đạo đức có tầm quan trọng quyết định số phận con người. Nhà trường có 1000 học sinh quyết định 1000 số phận. Số phận cá nhân sẽ quyết định số phận của cả một dân tộc. Một đứa trẻ hư chứng tỏ nhà trường đã thất bại, nhà trường thất bại thì cả dân tộc thất bại.
Việt Nam đứng thứ 13 trong số những nước vô cảm nhất thế giới. Tôi không quan tâm đến những lời ngụy biện để phủ nhận con số đó. Một thực tế văn hóa đạo đức xuống cấp đến mức nào cũng chẳng cần kể ra và cũng chẳng thể kể hết. Chúng ta hô hào báo chí đủ các kiểu nhưng hầu như không đem lại một kết quả gì ra hồn. Tất cả đều có nguyên nhân khởi phát từ giáo dục.
Bắt đầu mỗi năm học mới luôn có một cái bản mà giáo viên đọc cho học sinh chép vào vở, đó là nội quy nhà trường. Nội quy nhà trường luôn có mối quan hệ với các chuẩn mực văn hóa cơ bản, như là giữ gìn vệ sinh chung. Nhưng không nhiều người làm được đó vì mối quan tâm của người đi dạy và đi học vẫn là điểm số. Mặt khác, nội quy thuộc về luật pháp, luật pháp phải đứng đằng sau đạo đức, khi nào đạo đức không thể cứu vớt được nữa thì luật pháp mới can thiệp. Chúng ta lại cứ thích kỷ luật và cấm đoán nhiều hơn là cảm hóa.
Nhìn thẳng mà nói, môn giáo dục công dân từ lâu đã trở thành một trong những môn kém được coi trọng nhất trong bảng điểm cùng với những môn như mỹ thuật, âm nhạc, thể dục, tin học, công nghệ, quân sự. Việc học nó chỉ mang tính hình thức và đối phó. Tôi nói như vậy không phải ủng hộ môn này sẽ thành môn trọng tâm để mà chúng ta thi đua nhau. Mà như vậy sẽ chỉ khiến cho học sinh khổ thêm. Điều quan trọng cần nhìn rõ là có học chăm như thế nào đi chăng nữa cũng không bao giờ là đủ. Bởi vì mặc dù đạo đức là thứ cũng được lý luận và ghi chép trong sách trong vở như bao nhiêu tri thức khác nhưng cách học lại hoàn toàn không giống nhau.
Nếu như tri thức chỉ đọc hiểu qua lý trí thì đạo đức có thể cảm nhận và biểu lộ qua trái tim. Để hình thành một con người đạo đức, không thể việc chỉ bắt người ta ngồi đọc ê a những đạo lý, những phần ghi nhớ cuối bài, không thể hiểu qua lý thuyết suông hay điểm 10 phẩy trung bình môn. Tất cả những thứ đó không hề có liên quan đến tiêu chí đạo đức trong con người ta, mà chỉ có nguy cơ biến họ thành những kẻ đạo đức giả.
Trong suy nghĩ của đại bộ phận hiện nay thì "đầu tiên là tiền đâu?". Sống vì lợi ích bản thân, trục lợi, bất kể ảnh hưởng tới người khác. Giữa xã hội sống đầy lý tính này thì đạo đức chỉ là thứ gì đó mơ hồ và xa xỉ. Khi ta cho một thứ, lý trí sẽ bảo ta rằng có nên không? Liệu ta có được nhận lại được trả ơn điều gì không? Ta không tin rằng khi làm được một việc tốt sẽ đem lại niềm vui và sự thanh thản trong tâm hồn. Về lý thuyết thì mơ hồ. Chỉ có trải nghiệm mới khiến ta thực sự hiểu đạo đức là gì. Vậy trách nhiệm cao cả của giáo viên là tìm ra con đường dẫn đến trái tim của học sinh, phải khơi gợi tình thương yêu giữa con người với con người, giữa con người với vạn vật, và thực sự có nhiều hơn một con đường như thế!
Mấu chốt không phải ở môn giáo dục công dân hay môn đạo đức mà các môn như văn học, lịch sử và các môn nghệ thuật khác cũng là để nuôi dưỡng tâm hồn. Nhưng chúng ta không làm được. Bởi vì chưa có cảm tình gì với tác phẩm tác giả đã phải miễn cưỡng học thuộc lòng tiểu sử năm sinh năm mất của người ta, thậm chí là cả một bài dài. Các giá trị nhân văn rất khó đi vào lòng người khi chỉ nói suông, viết lên tự ca như những con vẹt. Lịch sử quá chi tiết, những bài học thừa thãi viết ra rập khuôn trong khi không truyền được tinh thần yêu nước đến cho học sinh.
Thời gian càng trôi đi thì càng khó nhìn lại, khó tưởng tượng, khó xúc động. Ở một người bình thường, những hình ảnh chủ quan do trí tưởng tượng mang lại bao giờ cũng yếu ớt và mờ nhạt hơn so với những phản ứng do các giác quan trực tiếp gây nên. Thế hệ đi sau không thể bồi hồi nhớ lại ký ức của những thế hệ đi trước. Trách làm sao được chúng nó chỉ nhìn thấy hàng hiệu, xe tay ga? Đâu có biết được nước mắt của người mẹ già thời kháng chiến? Cho nên cứ chỉ đọc chép và nhai lại không thôi chưa thể giúp được các học sinh cảm nhận những gì đang được học. Và tâm hồn sẽ càng mai một đi khi những giá trị rất đẹp lại bị học thuộc lòng một cách vô cảm. Bản sắc dân tộc cũng từ đó mà rơi vào hố đen.
Tất cả nguyên nhân cũng chỉ vì tất cả đều cắm đầu giúp nhau vào đối phó những kỳ thi. Thầy giáo, cô giáo, những ngày đầu bước chân vào ngành sư phạm hẳn ai cũng muốn được cống hiến, muốn được đóng góp, muốn có thiên lương cao đẹp, muốn có lứa lứa học trò của mình dạy dỗ được khôn lớn nên người. Họ đã chọn cái nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý. Nhưng rồi thời gian lại trôi đi, cái lúc mà trời nắng chang chang, mồ hôi nhỏ giọt, con đeo trước mặt, vợ bám trên lưng lấy cái gì mà làm động lực? Tất cả sẽ mãi chỉ là viển vông khi lương của giáo viên vẫn còn thấp như vậy. Mà lương lậu lại là vấn đề của kinh tế. Kinh tế có vấn đề phần nhiều là do tham nhũng, mà những kể tham nhũng muốn đứng được ở vị trí có thể tham nhũng cũng phải ít nhất từng phải trải qua 12 năm giáo dục. Và thế là ta thấy vòng tuần hoàn này cứ luẩn quanh luẩn quẩn một cách thật ảm đạm, thảm hại và bế tắc.
Chúng ta học rất nhiều! Chúng ta học rất nhiều! Học từ vi mô cho đến vĩ mô. Học từ sao Thổ cho đến sao Kim nhưng chúng ta học rất ít về con người. Trí thông minh của con người được chia làm 8 loại hình: trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh cảm nhận không gian, trí thông minh cảm nhận âm nhạc, trí thông minh vận động cơ thể, trí thông minh tương tác giữa các cá nhân, trí thông minh cảm nhận thiên nhiên, trí thông minh nội tâm, trí thông minh logic toán. Trong khi những môn đang là trọng tâm như toán, lý, hóa nếu học chuẩn cũng chỉ giúp học sinh nâng cao trí thông minh logic toán. Để trở thành một người văn minh, văn hóa, có đạo đức, trước hết học sinh phải được trau dồi trí thông minh nội tâm, con người phải hiểu chính bản thân con người để có sự tự vấn, tự giằng xé trong tâm can, để vạch rõ đúng sai, trắng đen, thiện ác, để có thể trụ vững trong một xã hội với phần đông là những kẻ vô văn hóa, vô đạo đức.
Càng hiểu rõ bản thân hơn ta càng có đề kháng trước những thói hư tật xấu của người đời mà cái đó ở trường không có ai dạy. SGK chỉ quan tâm đến những con số và những con chữ. Cái khó của giáo dục không phải ở chỗ làm sao cho học sinh thi đỗ mà phải dạy sao cho học sinh nên người mới đúng.

ĐỂ HỌC TẬP LÀ MỘT HÌNH THỨC GIẢI TRÍ VĂN MINH

Thử hỏi ta đã làm gì cho quyền học tập của công dân? Nếu ta muốn họ được học những kiến thức đang chờ họ đằng sau cánh cửa ĐH thì ta phải bắt họ phải thi, phải chọi nhau mới được bước chân vào. Nhưng người ta không có nhu cầu học nhưng vẫn bắt ngườ ta phải học ĐH mới được bước chân ra. Nói gì thì nói, học hỏi là một cái quyền không ai có thể tước đoạt. Loài người từ trước đến nay vẫn luôn đấu tranh cho quyền được học tập. Nhưng dường như đâu đây trên trái đất này cần nhen lên một sự đấu tranh cho cả quyền được từ chối học tập.
Đừng hiểu nhầm! Tôi không hề ca ngợi hay cổ xúy cho tinh thần trốn học bỏ học. Thực sự được dạy mà không học. Từ chối học tập thực sự là một cái .... (thiểu năng?). Nhưng nếu mình phải học một cái gì đó mà trở thành ngu đi còn là cái tội nặng hơn. Kiến thức không có tội. Tội nằm ở đâu?
Chúng ta hãy coi quá trình học hỏi như một hoạt động thu hoạch. Ở đó mỗi người có một công cụ để thu hoạch kiến thức và một chiếc túi để đựng kiến thức. Ban đầu ai cũng giống như nhau. Nhưng sau một thời gian đào tạo người nào có cái máy gặt và cái bao tải thì có nhu cầu chọn thứ vĩ đại. Người nào có cái xẻng và cái túi ni lông thì có nhu cầu chọn thứ nhỏ nhặt vừa đủ. Lê Nin có nhu cầu ngồi ở nhà đọc sách triết học. Còn bạn hàng xóm của Lê Nin chỉ có nhu cầu học cách dùng súng để bắn chim. Nhu cầu mỗi người là khác nhau. Nhưng không thể trách người có ít hơn mà chì chiết họ. Cái công cụ thu hoạch đó chính là phương pháp tự học và cái túi đó chính là đại diện cho cái sự hứng thú tham lam của người ta. Giáo dục để giúp cho mỗi học sinh có những công cụ sắc bén nhất và một chiếc túi...
Đầu tiên là cái tội làm hỏng công cụ thu hoạch của học sinh. Với lối dạy theo kiểu giảng giải vô tình chúng ta tước đi quyền sử dụng công cụ thu hoạch của học sinh. Mà ngay cả việc chúng ta bao cấp, chúng ta phân phát, chúng ta chia đều, chúng ta chất đầy kiến thức khiến nó tắc lại. Giáo viên lúc nào cũng đúng, học sinh lúc nào cũng phải đồng ý. Như vậy giáo viên thì đưa ra cái lối mòn, còn học sinh thì lúc nào cũng tung tăng dắt tay nhau đi tiếp trên những vết xe, trong khi những cái mà chúng ta cần đấy là những sự đột phá, những tìm tòi và phát hiện mới. Cứ dạy học sinh như vậy thì bảo tại sao chúng không phát huy sáng tạo? Không phát huy được thành tựu khoa học nào chất lượng hơn các nước khác. Để rồi được một vài trường hợp ít ỏi thì lại tung hô lên lấy làm tự hào lắm.
Chúng ta có hàng trăm trường đại học, hàng chục nghìn tiến sĩ, hơn 9.000 giáo sư mà ít có sáng chế phát minh trong khi nông dân lại là người làm được điều đó. Đừng có đóng trại một bài học xuống đất rồi bắt học sinh nhai đi nhai lại như con vẹt. Đó không phải là học. Những lời văn hoa mỹ trau chuốt, các giá trị nghệ thuật ghi trong sách trong vở không phải do học sinh tự nghiệm ra mà được viết nên bởi những ông già. Cả nhân loại, cả nhân loại vẫn đang còn bước đi trên con đường tìm kiếm chân lý. Và những định luật tỏ ra vững chãi nhất vào giờ phút này cũng có thể được bổ sung, hoặc bị phủ nhận và hạ bệ trong nay mai. Chúng ta dựng lên những tượng đài để rồi cuối cùng nó chắn lối trong quá trình phát triển tư duy. Nó làm mụ mị đầu óc và đui mù kỹ năng phê phán. Thế nên mới phải nhắc lại rằng, đối với việc áp đặt, học vẹt, học nhồi sọ, học suông trong trường hợp tốt nhất cũng có thể cung ứng cho xã hội những cá nhân giỏi chuyên môn như những giáo sư, tiến sĩ kia thật đấy song mang tư cách của kẻ nô lệ.
Vậy thì chúng ta cần phải làm gì?
Điều cần làm là dạy cho con người ta cách học, phương pháp tự học tập, nghiên cứu nói riêng, công cụ thu hoạch của học sinh. Bất kỳ tượng đài nào chúng ta dựng lên đều có quá trình phát triển của riêng họ. Nếu học văn thì phải được tư duy nghệ thuật như một nhà văn ngay từ thưở hồng hoang, nghĩa là được tự sáng tạo ra các sản phẩm nghệ thuật rồi từ đó rút ra kinh nghiệm chứ không phải học thuộc lời bình của người khác rồi ra trường chẳng ai làm nhà thơ nhà văn hay nhà phê bình. Nếu học vật lý phải biết được động cơ nào khiến cho nhà vật lý quan tâm tới vấn đề đó và cách thức làm ông ta suy nghĩ để tìm ra phương pháp kiểm nghiệm cho giả thiết mà ông ta đã đưa ra, chứ không phải học thuộc một đống công thức để rồi làm bài tập. Học cách suy nghĩ như những vĩ nhân, chúng ta hãy quan tâm tới cách làm hơn là quan tâm đến kết quả. Tôi nói điểm số có cũng như không là vì vậy.
Và đặc biệt, học sinh phải được quyền tranh luận với giáo viên về bất cứ vấn đề nào có liên quan tới bộ môn. Tôi không thích cảnh học sinh đặt câu hỏi ra thì giáo viên không trả lời được thì cứ chối quanh.... học trò. Lớp học là một tập thể. Hoạt động tập thể muốn đạt hiệu quả phải có sự lắng nghe, tiếp thu giữa các cá thể và giáo viên không phải là ngoại lệ. Chúng ta đều biết điều đó là tốt nhưng hình ảnh này lại ít khi có thể tìm thấy trên thực tế. Thứ nhất là vì tự ái của người dạy. Thứ hia là vì họ đã được phát triển trong một nền giáo dục thiếu tinh thần nghiên cứu và thừa tinh thần nhai lại.
Giáo viên cũng chỉ là sản phẩm của một nền giáo dục đi trước. Muốn có một xã hội dân chủ thì nhà trường phải dân chủ. Rèn luyện bản lĩnh là ở chỗ đó chứ không phải là các kỳ thi. Một giáo viên tìm kiếm điều gì ở học sinh của mình khi đứng trên bục giảng nhìn xuống phía dưới? Trong mắt giáo viên học sinh là gì? Là những người nối gót? Là những người ngồi im nghe giảng rồi sáng mai trả bài một cách trôi chảy? Là những người nhận kiến thức từ bài giảng của giáo viên rồi mai lại giảng lại những lời giảng đó cho con cháu, cho hậu thế? Không!
Nếu tôi là một giáo viên, một người có đam mê chân chính với bộ môn của mình tôi sẽ không coi học sinh của mình như vậy? Thay vào đó, tôi sẽ nhìn họ như những đồng nghiệp tương lai. Tôi coi học trò của mình là những người ngày một ngày hai đây thôi, chúng ta sẽ cùng ngồi với nhau và thảo luận về một vấn đề nào đó. Sự phủ định lẫn nhau là mấu chốt của quy luật phát triển. Một lớp học văn minh phải có sự trao đổi, xoay chiều giữa các luồng thông tin. Và để học sinh có thể trở thành một người đồng nghiệp tương lai như chúng ta hình dung cũng đồng nghĩa với việc phải giúp cho những học sinh đó biết cách tự học với một niềm hứng thú của riêng mình. Từ đó ta suy ra cái ... thứ hai. Khi đã có một công cụ sắc bén, biết cách tự học, người ta mới có hứng học. Khi đã có hứng với ít nhất một môn anh đã được coi là hiếu học và không có để sự hiếu học đó vươn ra các bộ môn còn lại vì kiến thức nó liên quan đến nhau và chiếc túi kia trở thành không đáy cũng là nhờ như vậy. Và đó là bí quyết.
Con người ta sinh ra là để học. Tò mò là bản chất của con người. Hiếu học là cái tạo hóa ban cho mỗi người. Chúng ta đi ngược lại quy luật của tạo hóa. Chúng ta khiến cho học sinh sợ học. Chúng ta khiến cho phụ huynh sợ học. Chúng ta khiến cho ai ai cũng muốn nghỉ học. Chúng ta dập tắt cái lòng tham tốt đẹp duy nhất đó đi. Và chúng ta thất bại. Con người mà không hiểu chính bản thân con người thì nghỉ đi, đừng làm giáo dục nữa.
Học, học nữa, học mãi. Chưa thấy một mẫu người đáng kính nào không ca ngợi việc học. Ta thấy được điều đó qua rất nhiều danh ngôn thành ngữ tục ngữ ca dao ca ngợi việc học. Nhưng một điều hiển nhiên, đó là sự học của họ không phải do ai thúc ép, không phải vì điểm số hay thi thố. Học vì họ muốn học, muốn biết, muốn vận dụng. Họ say mê trước vẻ đẹp của tri thức. Họ học với một niềm đam mê. Và tôi rất ca ngợi cái việc học như vậy. Và một nguyên lý muôn đời là học hỏi phải dựa trên tinh thần tự giác. Sự chủ động của người đi học là nền tảng. Phải có người khát khao tri thức và đi tìm người có thể truyền những tri thức ấy cho họ thì mối quan hệ thầy trò mới được hình thành. Chúng ta lại thích lấy các kỳ thi và kiểm tra ra phải ép người khác họ thế nọ, thật là khủng khiếp.
Việc ép học dưới mọi hình thức chỉ vô tình khiến quá trình nô lệ hóa diễn ra dễ dàng hơn. Ở phương diện thể xác, anh có thể ép một người ngồi xuống đọc quyển sách mà anh đặt trên bàn. Nhưng ở phương diện trí tuệ, anh sẽ không bao giờ tác động lên người đọc những tri thức được ghi trong quyển sách đó. Sự tiếp thu mới thực là bản chất của học hỏi, và nó phụ thuộc vào tinh thần làm việc, tinh thần tự giác của mỗi người học. Học để ngày mai kiểm tra không phải tự giác. Tự giác phải luôn đi cùng hứng thú, Anhxtanh đã nói. Giữa ý thức trách nhiệm và niềm hứng thú thì niềm hứng thú tốt hơn cả. Chỉ có hứng thú mới mang lại kết quả cao nhất, không có hứng thú không thể làm được điều gì hơn người.
Và làm thế nào để có hứng thú? Thứ ánh sáng đẹp đẽ của tri thức sẽ mất đi bởi chính một người mà chính ta tạo ra. Vì thế phải soạn sách đúng. Loại bỏ được gì thì bỏ. Đặc biệt là thi cử. Và phần còn lại, phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của giáo viên.
Một nhà giáo vĩ đại không phải là người có vốn hiểu biết sâu rộng nhất mà là người truyền được nhiều cảm hứng và tình yêu kiến thức nhất đến cho học sinh. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có thể đặt niềm tin vào tính tự giác của người khác. Bởi vì con người ta thường ham chơi hơn ham học. Nhưng điều đặc biệt là cả khi chơi con người ta cũng học được nhiều thứ. Một khi đã có sự vận động tương tác với thế giới xung quanh thì qua quá trình nhận thức bộ não con người luôn thu được những kinh nghiệm và những kinh nghiệm này chính là kiến thức. Khi chúng ta lưu trữ lại cũng là bổ sung vào kho tàng kiến thức của nhân loại.
Tri thức vô biên muôn hình vạn dạng. Từ những kinh nghiệm trong đời sống thường nhật cho đến những chân lý cao cả, kiến thức ... Là cách chế tác công cụ lao động của người tiền sử. Là kinh nghiệm thả diều của một thằng bé chăn trâu. Là huy động nội công của một võ sư. Là bí quyết để có bàn tay điêu luyện của một người nghệ sĩ. Là công thức nêm nếm cho một món ăn ngon. Hay thậm chí là những mánh khóe thủ đoạn lừa đảo của bọn tội phạm, biết để mà đề phòng. Chơi game, nghe nhạc cũng học được. Đá bóng xem phim cũng học được. Điều quan trọng là chắt lọc bao nhiêu kiến thức từ những phút giải trí và ứng dụng nó vào cuộc sống như thế nào! Và đôi khi những kinh nghiệm này tỏ ra có ích hơn những gì được học trên trường, lớp.
Ví dụ như khi ta xem một bộ phim nước ngoài, trước hết ta biết được văn hóa của họ. Rồi ta được chiêm ngưỡng những địa danh mà không cần đặt chân tới, đó là các kiến thức địa lý. Rồi ta lại được lắng nghe tiếng phát âm từ người bản địa chứ không phải từ giáo viên, đó là kiến thức ngoại ngữ. Rồi còn tùy câu chuyện kể mà ta học được kiến thức được lồng ghép trong đó. Ví dụ như phim khoa học viễn tưởng. Nếu có năng khiếu ta lại học được góc quay, biên tập, diễn xuất. Chưa kể là nó làm giàu tâm hồn, trí tưởng tượng của ta cùng với những giá trị nhân văn cao cả.
Cái phân biệt giữa chơi và học là một quan niệm rất sai lầm. Học mà cứ nghĩ phải ra học thì tự ta biến việc học thành một cái gì đó khác biệt với những công việc khác. Khi đọc sách ta không nên nghĩ mình đang học, điều đó chỉ khiến ta thấy mình buồn ngủ và khó tiếp thu hơn. Ta cần tự tạo cho mình hứng thú, hoặc chọn những cuốn sách mà ta thấy mình hứng thú, và từ đó sẽ đem lại cảm hứng chân trời kiến thức. Thế nên đôi khi học cũng chỉ là một hình thức giải trí văn minh.

GIÁO DỤC HƯỚNG TỚI ĐAM MÊ

Chúng ta đang tiến đến phương pháp dạy tích hợp. Một trào lưu dạy học phổ biến trên thế giới. Nó thúc đẩy tính tư duy hệ thống hay tư duy cơ giới trong thời đại này. Ví dụ tích hợp những nội dung về lịch sử, địa lý, về giáo dục công dân vào trong cùng một hoạt động để học sinh thấy rõ mối liên hệ then chốt giữa chúng và có một cái nhìn bao quát tổng hợp. Vậy thì thử ngô nghê mà nghĩ, tại sao chúng ta lại không tích hợp luôn cả giáo dục với giải trí? Nói nôm na là anh biến chơi thành học, học thành chơi.
Vì sao lại nghĩ như vậy? Vì tuy con người ta ham chơi hơn ham học nhưng ai sinh ra cũng tò mò về thế giới xung quanh. Ta hãy lợi dụng tâm lý đó khơi gợi niềm vui khám phá và khả năng tự học của học sinh.
Thử tưởng tượng ngài giáo dục và ngài giải trí bắt tay nhau sẽ như thế nào? Thay vì những sản phẩm vụ lợi nhố nhăng rẻ tiền như hiện nay thì chí ít nền điện ảnh nước nhà cũng phải đẻ ra những bộ phim đầy tính nhân văn và bản sắc dân tộc. Nếu không lấy được nước mắt của khán giả với hình ảnh của ngày giải phóng thì ít ra cũng khiến người xem tự hào về bắp chân của ông Thánh Gióng. Rồi những trò chơi mang tính giáo dục sẽ ra đời. Giả sử tôi có thể học hóa một cách hứng thú khi nhập vào góc nhìn thứ nhất của một tiến sĩ hóa học trong một tựa phim phiêu lưu mang phong cách đánh đố chẳng hạn? Tôi sẽ góp nhặt các chất trên đường đi, chế những hợp chất với những công dụng khác nhau để đánh bại kẻ thù. Đại khái cốt truyện xuất sắc vào. Nó là thiên đường với những ai không thích học hóa và các môn khác nữa.
Dù chỉ là một phút mơ mộng thôi nhưng chúng ta có quyền mơ và thực hiện nó. Đâu phải chỉ có giáo dục mới mang vai trò của giáo dục để rồi những đứa trẻ, ngay cả những đứa trẻ cũng lao vào đọc vanh vách những phản ứng của hóa học, cũng có thể nói chuyện với nhau về quá trình phiên mã, dịch mã của DNA thay vì tốn tiền nạp thẻ chơi game online.
Nghệ thuật ở đây, để cho ai thấy rằng môn học nào cũng thật là đẹp. Vẻ đẹp của nó không nằm ở những thứ nhạt nhẽo học trên trường lớp. Vẻ đẹp đến đâu phụ thuộc vào trí tưởng tượng của mỗi người và một yếu tố khác không thể không kể đến đó là niềm đam mê. Chính niềm đam mê! Chính đam mê sẽ quyết định sức mạnh của trí thức đối với sức mạnh thành công trong cuộc đời của mỗi con người. Hai người được tiếp thu một lượng kiến thức như nhau nhưng người có đam mê hơn sẽ thành công hơn người còn lại.
Có một đức tính mà từ cổ chí kim nhân loại vẫn ca ngợi, đó là chăm chỉ cần cù, có công mài sắt có ngày nên kim, trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng... Bản thân tôi cho rằng, những kinh nghiệm trên được đúc kết từ những con người thành công bằng niềm đam mê của họ. Chăm chỉ cần cù, nghe có vẻ mệt nhọc và dễ nản lòng với những ai vốn có tính lười biếng nhưng ở một người có đam mê cháy bỏng thì chăm chỉ cần cù chẳng phải điều gì quá to tát. Bởi một đam mê đích thực sẽ thúc đẩy ta làm đi làm lại công việc cho đến lúc thỏa mãn và đạt được kết quả mong muốn. Một người họa sĩ miệt mài vẽ mà hai từ chăm chỉ cần cù có thể không xuất hiện trong đầu. Người ta có thể nhìn vào nhà sinh học tương lai đang cặm cụi nghiên cứu cây đậu Hà Lan mà bảo người đó chăm chỉ cần cù lắm. Nhưng thực sự thì anh ta không cảm thấy vậy. Những con người say mê đó chỉ cảm thấy mình đang sống, sống đúng với bản thân mình, sống như mình sinh ra là để làm việc đó. Và hai từ chăm chỉ cần cù được đúc kết sau khi người ta nhìn lại cuộc đời mình. Có thể một người lười biếng trong một việc khác nhưng một khi đã động đến chuyên môn thì anh coi chừng.
Nhân đây ta mở ngoặc đơn một chút để bàn về sự lười biếng. Lười biếng có nhiều hình thái. Nhiều kiểu lười khác nhau. Lười biếng — không quan tâm. Lười biếng — quá tự tin. Lười biếng — thái độ chống đối. Hay lười vì quá chăm làm việc khác. Trong một kẻ lười biếng tồn tại nhiều dạng lười khác nhau. Có những cái lười này lấn át cái lười kia. Một nhà thơ tiềm năng đang bận nghiên cứu lý luận văn học có thể bị quy là lười vì không chịu làm bài tập tích phân. Một triết gia khi đang ngồi yên suy ngẫm có thể bị quy là lười vận động. Trong sự lao động vô hình có sự lao động hữu hình. Thế nên không phải sự lười biếng lúc nào cũng là xấu. Ở bên cạnh vô vàn các mặt tiêu cực của nó thì đôi khi lười biếng là tiền đề của chăm chỉ. Cũng giống như mối quan hệ giữa chơi và học. Thế nên nói một cách cực đoan, kẻ sở hữu sự lười biếng xấu xí nhất lại là kẻ không có lấy cho mình một niềm đam mê, tồn tại như một thứ đất đá vô tri vô giác.
Một lý do nữa vì sao tôi đề cao niềm đam mê đến như thế. Đó là vì đam mê thường đi cùng với đạo đức nghề nghiệp. Đam mê đích thực sẽ khiến ta trân trọng, thành tâm, nghiêm túc với công việc của mình như một lễ nghi thiêng liêng. Một nhà giáo yêu nghề sẽ không bao giờ mở lớp chỉ để lấy tiền của học sinh, có một người học thôi, vẫn dạy. Một bác sĩ yêu nghề dẫu đến trăm ca dồn dập cũng không đành lòng bỏ mặc một bệnh nhân. Một nhạc sĩ yêu nghề không bao giờ chấp nhận đạo nhạc. Và một game thủ đích thực thì một chỉ sản phẩm của họ...
Loại trừ những sở thích bệnh hoạn của một số kẻ thì hầu như mọi đam mê đều có tính hướng thiện. Thử tưởng tượng ra một xã hội với những con người hăng hái nhất, tận tụy nhất, nhiệt huyết nhất. Mỗi người đều có một mối quan tâm riêng, một mục tiêu riêng để theo đuổi, một lĩnh vực riêng để cống hiến. Và khi ai cũng được phát huy hết khả năng của mình thì khung cảnh sẽ tốt đẹp hơn hiện nay rất nhiều. Nhìn vào một đứa trẻ lông bông ngỗ nghịch ngoài đường ta nhìn thấy một tên trộm cắp tương lai hay nhìn thấy một viên ngọc nằm sâu trong bùn lầy chưa được tỏa sáng? Liệu có đam mê chân chính với bộ môn nào đó có thể kéo đứa trẻ ra xa khỏi những tệ nạn và đưa nó đến đỉnh của vinh quang?
Có nhiều người cho rằng đam mê gì thì đam mê vẫn phải kiếm tiền để nuôi bản thân trước đã. Đại khái là có thực với vực được đạo. Tôi không phủ nhận. Nhưng vì sao lại như vậy? Là bởi vì khi đang còn được người khác nuôi thì anh lại không được tạo điều kiện để theo đuổi. Như tôi đã nói, ở tuổi 14, 15, thậm chí là nhỏ hơn nhiều người đã xác định được mục tiêu rõ ràng về tương lai. Nếu bỏ ra ba năm trời ngồi học những kiến thức mà ta thấy trong đó hầu hết không có ích cho bản thân và tương lai của mình thì chẳng phải quá phí phạm? Không chỉ phí thời gian mà còn phí cả tuổi trẻ. Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu mà chẳng làm được gì cho đời. Hãy tưởng tượng ra cái biên giới song song với chúng ta khi cái bản sao kia của ta đã tiến được rất xa bằng cách dám chọn lối đi của riêng mình và được tạo điều kiện học hỏi những thứ mà họ yêu thích. Cái bản sao ấy có lẽ đã trở thành một cao thủ ở lĩnh vực nào đó, thậm chí không còn ăn bám nữa mà đã kiếm được những đồng tiền chân chính bằng khả năng của mình. Còn chúng ta thì không.
Đương nhiên sẽ có những người không có niềm tin vào đam mê. Có thể họ đã thất bại. Và họ thuyết phục người khác đừng theo đuổi đam mê vì sẽ gánh hậu quả như họ. Đương nhiên họ sẽ nhắc đến những con người làm việc quần quật ngày đêm để nhọc nhằn kiếm sống với công việc không hề dễ chịu và thích thú chút nào. Vậy thì phải mở ngoặc đơn một chút. Ta thấy ở khắp mọi nơi, từ trong nhà ra ngoài phố người có đam mê thì ít mà người không có đam mê thì nhiều. Người yêu quý công việc của mình thì ít mà người sẵn sàng nghỉ việc nếu có ai một ai đó đứng ra đảm bảo cho họ miếng ăn hàng ngày thì nhiều. Và cái đám đông đó có thể nói, đành phải nói rằng, ngoài sự bất cập từ chính bản thân họ ra thì họ cũng là nạn nhân của những bất cập trong xã hội. Mà những sự bất cập trong xã hội được sinh ra bởi những kẻ thiếu tri thức, thiếu đạo đức và thiếu nhiệt huyết. Giáo dục hiện nay không gì khác hơn sẽ đào tạo ra thêm những kẻ thiếu tri thức, thiếu đạo đức, thiếu nhiệt huyết.

MỘT NỀN GIÁO DỤC THIẾU MỤC TIÊU

Những thành công cá nhân làm nên sức mạnh của tập thể, đó chẳng phải là điều mà bất kỳ dân tộc nào cũng hướng tới? Những thành công chân chính chỉ có thể sinh ra từ nghị lực và đam mê chân chính. Thế nhưng nhìn thấy nhiều người không một ước mơ, không có đam mê nào trong cuộc sống, thi đại học thường là chọn khối vừa sức trước khi chọn trường. Không ít chúng ta chỉ cố gắng lay lắt trước các kỳ thi còn nghề nghiệp tương lai là chưa bàn tới, và nếu chọn trường cũng chỉ cố gắng đừng để bị thất nghiệp. Đương nhiên thì ai cũng có công ăn việc làm ổn định nhưng có câu của Khổng Tử mà chúng ta nên nhớ, hãy chọn công việc mà bạn yêu mến và bạn sẽ không phải làm việc một ngày nào cả. Steve Job, ông trùm công nghệ đã thay đổi cả thế giới với quả táo cắn dở cũng đã nói, khi bạn làm một công việc mà bạn yêu thích hoặc thực sự quan tâm tới bạn không cần một ai bên cạnh để thúc ép để thúc đẩy, bởi chính cái viễn cảnh về thứ ấy sẽ kéo bạn đi. Nhưng mà nhiều người không có điều để họ quan tâm. Họ không thể xây dựng được cái viễn cảnh cho bản thân và luôn phải bị thúc ép. Điều quan trọng cần nhìn rõ ở đây là người có lỗi không hoàn toàn là họ. Ta trồng cây nhưng lại nhét nó vào trong một cái lọ rồi đóng nắp lại thì không thể nào lớn nổi.
Đam mê thường bắt nguồn từ những việc nhận thức được những gì trong ta đã có đã biết và phải hứng thú với nó. Ta thấy mình hát hay muốn làm ca sĩ. Thấy mình giỏi lắp ráp thì thích làm kỹ sư. Thích kể chuyện thì muốn làm nhà văn. Chúng ta khi còn bé đều sở hữu những sự tò mò, sự sáng tạo, sức tưởng tượng phong phú của mình với những năng khiếu nhất định. Có thể bạn đã từng thể hiện khả năng về nghệ thuật, năng khiếu quan sát, xã hội, cơ khí, vật lý, thể thao hay thậm chí là cả năng lực tâm linh. Với những ai nghĩ rằng tạo hóa đã ban cho mình số phận của một kẻ bất tài hãy nhìn lại xem liệu có phải thế không? Hay là đã từng có năng lực nhưng đã bị thui chột, không được tạo điều kiện để phát triển. Chúng ta có nhiều hơn những gì đang có. Chúng ta làm được nhiều hơn là ngồi vùi mặt làm bài tập vô bổ ngày này qua ngày khác. Chúng ta là những người có tài!
Nói nhiều về đam mê như vậy là để thấy một cái tội nữa của giáo dục đó là nhét con người ta vào trong cái lọ! Đất nước này không thiếu nhân tài. Thế nhưng những bộ óc độc lập lại đang dần bị nô lệ hóa. Con người ta sinh ra là khác nhau nhưng ai cũng phải phát triển theo cùng một hướng giống nhau, do bố không muốn con trai học nhạc, do mẹ không muốn con gái học nhảy, do không ai tin vào những giấc mơ kỳ bí và khả năng tiên đoán của một đứa trẻ. Và đến khi chúng nó đi học nhà trường cũng không làm được gì hơn là đẩy tất cả vào chung một dòng sông rác.
Lựa chọn ở đâu? Tôi không nhìn thấy lựa chọn ở đâu cả! Bởi những định kiến lớn đến nỗi nhắm mắt cũng thấy. Những định kiến từ đâu mà ra? Từ đâu mà người ta muốn con mình phải vào đại học? Từ đâu mà người ta cứ muốn con mình phải vào THPT? Tại sao nó lại thành một thứ phong trào để a dua nhau một cách mù quáng? Biết là không thích, biết là không phù hợp, biết là không có khả năng vẫn cứ cố mà lao theo. Mấy ai chọn trường nghề? Mấy ai chọn TCCN? Mà cố cho bằng được để vào THPT và vào được đại học.
Từ bao giờ chúng ta cứ nhìn vào cái mác trường để đánh giá năng lực và xét đoán tương lai của người khác? Ta nghĩ rằng điểm chuẩn tỉ lệ thuận với thành công trong tương lai, tỉ lệ thuận với lượng tiền ổn định kiếm được trong tương lai. Đối với những ai tự mình định hướng thì có thể là như vậy. Còn nếu không thì sớm muộn anh sẽ cảm thấy mình bị lạc long bởi bản thân cũng chỉ là kẻ chạy theo trào lưu không hơn không kém, một thứ trào lưu bằng lời hứa hẹn tiền tài viển vông do cái thương hiệu dấy lên mà không biết nhìn vào sở trường và khát vọng của bản thân, nếu như vậy thì không còn bằng một người học nghề từ năm 15 tuổi.
Tại sao hầu như ai cũng nghĩ rằng đại học là con đường duy nhất để tiến thân cũng như THPT là con đường duy nhất để lên đại học? Quan niệm như vậy dẫn đến hệ quả tất yếu đó là thiếu hụt nguồn nhân lực về cả số lượng lẫn chất lượng như hiện nay. Bây giờ chúng ta hãy bắt đầu cố gắng tuyên truyền vận động thay đổi quan niệm phụ huynh học sinh?
Vô ích! Người làm giáo dục không thay đổi suy nghĩ thì làm sao người được giáo dục thay đổi quan điểm? Lúc nào ta cũng nghe những ngôn từ mang đầy tính phân biệt: năng lực học tập khá trở lên, năng lực học tập trung bình trở xuống, trượt cái này thì phải vào cái kia, không đủ điều kiện học cao thì đành học thấp..., rất nhiều, rất nhiều! Những thứ đó chẳng phải do người làm giáo dục viết ra hay sao? Chúng ta phân biệt kín đáo, phân chia cao thấp, tạo nên những thứ đẳng cấp cao thấp khác nhau. Phụ huynh nào chẳng muốn con mình học giỏi, học cao? Đứa con nào chẳng muốn làm cho cha mẹ tự hào? Như vậy vô hình trung tự chúng ta dồn ép nhau để cố bằng được vào những môi trường được gọi là cao cấp hơn, được dành cho những ai thông minh hơn. Trình độ chỉ có thể xét trong một chuyên môn nhất định. Ở trường học, xếp loại học lực là chuyện phù phiếm. Khả năng của con người không hề gói gọn trong khoàng chục cái môn ở trường. Thế nhưng điểm số của chúng, những giá trị hão huyền buộc con người ta phải tốn thời gian chạy theo chỉ để mong một tương lai sán lạn, để tránh khỏi những định kiến, dè bỉu của xã hội.
Vậy căn nguyên? Chính là sự phán xét thiếu công minh, thiếu thực tế mà một lần nữa điểm số là một công cụ. Muốn xóa bỏ định kiến ta phải xóa bỏ ranh giới phân biệt đó. Muốn không có thành tích, ta phải lọc bỏ thành tích. Chúng ta không nói lên được mục đích của những cuốn sách giáo khoa phổ thông. Thậm chí xét lẻ tẻ từng môn học thôi chúng ta cũng không thể nói được mục đích của môn toán là củng cố tư duy logic hay đào tạo những nhà toán học tương lai hay để sản xuất máy tính? Mục đích của môn văn là để làm giàu tâm hồn hay để đào tạo những nhà văn nhà thơ nhà phê bình hay để sản xuất máy ghi âm? Và cả các môn khác nữa, chúng ta không thể nói lên được mục đích của nó.
Như vậy rõ ràng chúng ta cũng không thể nói lên được mục đích đào tạo của cấp THPT và có lẽ thậm chí là cấp I, cấp II. Và thật vô lý từ trước đến nay chúng ta vẫn cứ đi học mà chẳng biết mục đích của mình. Nếu muốn đào tạo những nhà vật lý học tại sao lại cứ thi tốt nghiệp lịch sử? Cái gì cũng đáng để học nhưng không phải cái gì cũng cần để thi. Tất cả chúng ta sớm muộn rồi ai ai cũng phải có một cái nghề. Nếu như việc đi học không giúp cho được tất cả nên người, không giúp cho được tất cả thành người có văn hóa thì nó ắt phải giúp cho người ta có được một kỹ năng kiếm sống, một cái nghề. Những trường nghề đáp ứng được tiêu chuẩn đó.
Thế còn THPT, ai biết? Có thể anh học nhiều hơn, anh lắm chữ hơn nhưng anh đóng góp được bao nhiêu? Những chữ nghĩa đó có vai trò gì với những nghề sau này anh làm? Ai biết? Nói trắng ra chúng ta không có sự lựa chọn. Vẫn muốn theo đuổi đam mê nhưng không thể mạo hiểm chọn trường nghề. Bởi những định kiến cũng sinh ra từ chính bất cập của các trường nghề. Nếu các trường đó có chất lượng thì đã tạo được chỗ đứng trong mắt mọi người. Cái này tôi không thể nói nhiều, để nhường cho những chiến sĩ dạy và học nghề cảm thấy bức xúc.
Thế còn xét THTP, với những sự lựa chọn nào được bày ra? Trước mắt nó được quanh đi quẩn lại với những ban tự nhiên, ban cơ bản, ban xã hội. Tất cả những sự lựa chọn đó nó chỉ nằm trong phạm vi đưa chúng ta lên vị trí của những nhà lý thuyết học mà lý thuyết chỉ mãi là lý thuyết mà thôi. Thế còn tôi muốn học những thứ khác thì sao? Những kỹ năng như kịch, âm nhạc, nghệ thuật, tranh luận, phát biểu trước công chúng, rồi những hoạt động thể thao cá nhân đồng đội, tất cả những thứ giúp cho học sinh phát triển kỹ năng lãnh đạo và tổ chức cũng như sự tự tin và tính tự lập nó nằm ở đâu trong chương trình học của Việt Nam? Một người nằm lăn ra đường thì có 10 người chạy ra xem trong đó có đến 9 người không biết thao tác sơ cứu.
Chẳng nhẽ buổi sáng tôi đi học những thứ vô bổ trên lớp, buổi chiều tôi đi học thêm để đảm bảo cho những thứ vô bổ, để rồi buổi tối tôi làm bài tập vô bổ, để rồi thời gian dành cho đam mê, dành cho năng khiếu, để cho những kỹ năng cần thiết và có ích trong cuộc sống thì chỉ có thể là những khe trống giữa các buổi vô bổ. Như vậy tuổi xanh của tôi có bị lãng phí không? Học hành như thế thì tôi có tổn thọ hay không? Chẳng lẽ phải đợi đến đại học mới tạm gọi là tự do để có những kỹ năng mình cần? Vậy thì rõ ràng bây giờ đang rất cấp bách để chúng ta phải hình thành một hệ thống giáo dục hoàn toàn mới. Như Lưu Quang Vũ đã nói, có những cái sai không thể sửa được; chắp vá, gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ còn cách là đừng làm sai nữa hoặc bù lại bằng một việc đúng khác.
Khi tôi đọc báo thấy có nhiều người quan tâm đến giáo dục và họ cũng đưa ra những ý kiến đa chiều. Thế nhưng phần lớn tuy nhiệt huyết nhưng không nhìn thấy ủ bệnh ở quả tim, cứ đi tìm đâu đâu ở các cái mao mạch. Vấn đề của bộ não mà cứ nhấc lên đặt xuống với mấy cái đốt ngón tay. Trong khi đó chỉ có một số ít các cao nhân là có đôi mắt tinh tường xoáy sâu vào cái cốt lõi, đó là ai? Đó là GS Hồ Ngọc Đại, hiệu trưởng trường Thực nghiệm, đó là nhà giáo Phạm Toàn với nhóm Cánh Buồm đang thực hiện bộ giáo khoa mới, đó là GS Hoàng Tụy, GS Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc, TS Phạm Anh Tuấn và những người khác. Thế nhưng tôi nhìn mãi, nhìn mãi cũng chỉ thấy người giỏi ở trên mặt báo. Rời mắt ra thì khung cảnh vẫn ảm đạm, thạm hại, bế tắc và thê lương như thường. Tất cả những mái đầu bạc trắng vẫn chỉ như đứng cạnh nhau trên một cái đường tròn, đổ dồn mắt vào bên trong, không tài nào với tay nổi vào cái tâm I của đường tròn đó. Tôi tự hỏi vị trí trung tâm đó là của ai? Làm thế nào để nó nhúc nhích đây? Và đến bao giờ thì cái vòng tròn kia mới được lăn bánh?
Nếu như các ngành công nông nghiệp khác đều tạo ra sản phẩm là hàng hóa thì sản phẩm của ngành giáo dục là con người. Sản phẩm được định nghĩa là gì? Là kết quả của một quá trình tập hợp những hoạt động liên quan đến nhau và tương tác lẫn nhau để biết đầu vào thành đầu ra, input — output. Tôi gọi học sinh là một loại sản phẩm đặc biệt và giáo dục là một quy trình đặc biệt. Hãy xem chúng ta nhìn nhận thế nào về cái quá trình đó?

GIÁO DỤC LÀ CHÍNH BẢN THÂN CUỘC SỐNG

Ta vẫn thấy những kiểu đánh đồng xếp loại học lực với xếp loại hạnh kiểm. Một học sinh ngoan xứng đáng được nhận hạnh kiểm tốt nhưng nếu học lực yếu thì điều đó sẽ không xảy ra. Vì sao vậy? Vì sao không thuộc bài, không làm bài tập người học bị coi là một hình thức vô trách nhiệm? Vậy chúng ta lại quy về câu hỏi tại sao việc học lại được coi là có ý thức, có trách nhiệm? Điều này thể hiện rằng chúng ta coi học là cái trách nhiệm, nghĩa vụ của con cái, của học sinh. Nghiễm nhiên chúng ta đã coi nó như một thứ thủ tục bắt buộc trong hành chính sống, và bằng cái lối suy nghĩ như vậy chúng ta chờ đợi một chứng nhận, một cái chứng nhận ở đầu ra thay vì qua tâm sen.
Điều gì đã thay đổi?
Chúng ta cứ nói phải cố mà học đi con ạ, cố mà học cho xong đi con ạ rồi mai sau mày muốn làm gì thì làm. Sao tất cả ai ai cũng khổ sở như thế? Suốt bao năm không biết có bao nhiêu cuộc đời, bao nhiêu tuổi thanh xuân bị thẳng tay ném một cách không thương tiếc vào cái máy nghiền tàn bạo của thi cử? Kiến thức vô bổ dẫn đến hàng vạn hành động vô nghĩa. Bày ra thi cử rồi lại bán sách hướng dẫn ôn thi. Có vô nghĩa hay không? Rõ ràng chỉ đối phó là giỏi. Rồi thì đủ các loại học thêm, đủ các loại lò luyện thi mọc lên. Tất cả toàn là những hành động vô nghĩa, bòn rút sức khỏe, thời gian, tiền bạc lẫn nhau. Suốt bao nhiêu năm cố mà học đã trở thành một hệ tư tưởng chây lì trong đầu của cả thế hệ già trẻ lớn bé.
Cố mà học! Cố mà học! Cố mãi cuối cùng cũng hỏng!
Chúng ta mặc định coi việc đi học, lên lớp và lấy bằng như một thứ thủ tục bắt buộc trong hành trình sống mà không hề quan tâm xem những hoạt động đó có mục đích gì, có liên quan tương tác như thế nào tới đầu vào và đầu ra, tới cuộc đời của chúng ta cho dù nó cứ từ trên trời rơi xuống. Nhà trường bỗng trở thành một cửa ải khiên cưỡng mà người ta cắn răng chi tiền bước vào chỉ để mong có được một miếng bánh đền bù ở lối thoát. Trẻ em, trẻ em giống như một thứ nguyên liệu tươi mới gia đình đưa vào nhà trường rồi nhà trường đùn ra xã hội. Lúc bước vào trong tay không có gì nhưng sở hữu những năng lực tiềm tàng. Lúc bước ra tay ôm cái bằng nhưng năng lực không những không được phát huy mà còn bị thui chột. Kiến thức kỹ năng cần cho cuộc sống không có, lại còn lười học. Đạo đức không được trau dồi lại còn mất đi. Chúng ta cắp sách tới trường hàng ngày một cách vô thức để làm gì? Đi học không phải là để sống sót qua hơn chục năm thi cử để rồi với lấy một cái bằng.
Giáo dục không phải để chuẩn bị cho con em một cuộc sống tương lai!
Giáo dục không phải để chuẩn bị cho con em một cuộc sống tương lai!
Giáo dục chính là bản thân cuộc sống!
Cuộc sống! Cuộc sống! Cuộc sống!
Học là để phục vụ nhu cầu cuộc sống. Học là để trở thành người có văn hóa, không phải để thi. Học những thứ cần thiết cho cuộc sống và tương lai, không học những thứ vô ích cho chúng ta sở hữu những tờ giấy vô dụng. Đừng trả tiền cho chục năm chỉ để mua được một cái vé thông hành. Chính bản thân chúng ta phải được đào tạo ra để trở thành người lái tàu của chính cuộc đời mình.

TẤT CẢ VÌ MỘT NỀN GIÁO DỤC KHAI PHÓNG

Rồi một ngày không xa những con rô bốt do chúng ta tạo ra sẽ sở hữu trí nhớ khổng lồ. Ta biết tất cả mọi thứ, ta cho nó sở hữu, một kiến thức rất lớn gấp trăm ngàn lần một người bằng xương bằng thịt. Nhưng đó là giới hạn, là cực điểm, là không thể hơn nữa. Nó không bao giờ có thể trở thành con người, nó chỉ là cái máy. Và một nền giáo dục nô lệ hóa con người ta chỉ biến người ta trở thành cái máy tích lũy kiến thức, mất đi khả năng làm người.
Trong vật lý có một quy tắc chuyển hóa năng lượng bất di bất dịch, đó là hấp thụ, tích lũy và phát xạ. Trí thông minh của con người cũng như vậy. Chúng ta hấp thụ kiến thức, chúng ta tích lũy kiến thức, nhưng nếu chúng ta không phát xạ kiến thức, không chuyển hóa nó thành một trạng thái mới, một dạng thù hình — một khuôn mặt mới hay một giá trị mới thì chúng ta sẽ chỉ là một cái máy mà thôi.
Tôi thấy rất nhiều người họ rất tự hào về những gì mình biết. Họ tự biến mình thành một cái kho, một cái bảo tàng và tung tăng vui vẻ với điều đó. Thật thảm hại! Thứ duy nhất họ sở hữu chỉ là sĩ diện. Thứ sĩ diện vớt vát được một cách ngồi lãng phí thời gian ngồi chém gió với những người nói chung có nhận thức hẹp hòi. Tại sao người nông dân không được học quá nhiều nhưng phát minh ra bao thứ máy móc? Còn các giáo sư tiến sĩ học đến rất cao kia lại không có nổi cái sáng chế cho riêng mình? Đừng chỉ ngồi đó hấp thụ và tích lũy. Hãy phát xạ nó đi, nếu không thì tất cả kiến thức sớm muộn rồi cũng sẽ đóng sập trong trí não của anh.
Chúng ta biết con gì chỉ tiêu thụ mà không bao giờ làm việc? Đó là con đỉa, con vắt, những loại ký sinh trùng! Chúng ta không muốn làm ký sinh trùng! Chúng ta muốn làm con người. Con người kiến tạo xã hội. Ký sinh trùng tiêu hủy xã hội. Con người làm chủ, ký sinh trùng làm nô lệ. Đừng tự hào với những gì mình biết, hãy tự hào vì những gì mình làm được. Tất cả những thứ điểm số, điểm sàn, điểm trên trường lớp không quan trọng. Điểm cao không có nghĩa là tài giỏi và điểm thấp không có nghĩa là đần ngu. Những điểm số, những sĩ diện, hãy biến chúng thành phù du!
Những người đang nắm trong tay quyền hành hãy hành động ngay, hãy thay đổi ngay bây giờ. Các vị hãy xếp từng viên gạch ngang ngả đường vận mệnh những chủ nhân tương lai của đất nước! Các vị là người tốt. Các vị hãy mong muốn điều tốt đẹp cho dân tộc này. Dân tộc nào có những nhà trường tốt nhất dân tộc đó đứng trên các dân tộc khác. Hôm nay chưa vào vị trí đó thì ngày mai! Hôm nay ta chưa hoàn thành nghĩa vụ thì mai sẽ hoàn thành. Hôm nay còn cồng kềnh mai sẽ nhẹ như bay. Hôm nay chưa thể phân luồng đúng đắn mai sẽ đúng. Lương giáo viên hôm nay còn ngặt nghèo mai sẽ đổ xô vào ngành sư phạm. Hôm nay chất lượng giảng dạy còn thấp mai phụ huynh cũng biết dạy con. Hôm nay chưa thể tư duy độc lập mai sẽ có những phát minh. Hôm nay định kiến vẫn còn, mai sẽ không cánh mà bay. Tất cả những gì còn phế phẩm cặn bã của ngày hôm nay rồi một ngày mai sẽ được đào thải và tái chế. Giáo dục là cái gốc của mọi vấn đề. Giáo dục phát triển kéo mọi thứ còn lại lên theo.
Và có một điều chúng ta có thể thực hiện ngay, có thể thay đổi ngay bây giờ đó là hãy gỡ bỏ kỳ thi tốt nghiệp! Hãy gỡ bỏ kỳ thi tốt nghiệp THPT! Chương trình học vô bổ như thế nào giờ thì ai cũng thấy rõ. Không một người nào muốn một kỳ thi khiên cưỡng lại quyết định số phận của mình bởi thi đại học đã quá đủ! Khẩn thiết mà nói, ta ra quyết định này càng sớm bao nhiêu càng có lợi bấy nhiêu. Không biết bao nhiêu người nói lên lợi ích của việc bỏ thi tốt nghiệp, lợi ích vì sức khỏe tất cả, lợi ích kinh tế — dành tiền để mà đầu tư vào cơ sở vật chất, để trả lương để bồi dưỡng cho giáo viên. Chúng ta chưa thể bỏ kỳ thi đại học nhưng có thể bỏ kỳ thi tốt nghiệp. Mục đích của hầu hết người học hiện nay vẫn là đỗ đại học. Vì vậy học sinh phải tập trung năng lượng để đối phó với chỉ một kỳ thi. Còn nếu vẫn thi tốt nghiệp thì sẽ thế nào? Thì ta lại tiếp tục dang rộng cánh tay hào phóng của mình để chào mừng kẻ kí sinh mang tên đối phó một lần nữa được tiếp tục phát huy sức mạnh để hút hết sức sống của học sinh. Và chúng ta lại tiếp tục ngu hóa dân thêm một bước cuối cùng.
Chúng ta sáng suốt. Chúng ta nhân từ. Hãy đặt nét bút đầu tiên chấm phá một tia sáng lên thảm cảnh đen tối đã ở nơi đây. Hãy giải thoát cho sự bị động chảy khắp dưới đáy sông được nâng đầu dậy. Hãy gạt bỏ tự ái. Hãy nâng cao tự trọng mà làm với cái tâm của mình.
Những ai đến cùng tôi chúng ta nhìn thấy tiêu cực nhưng chúng ta không suy nghĩ tiêu cực, và chúng ta muốn mong mọi thứ trở nên tích cực hơn. Chúng ta hướng tới một tương lai tươi sáng. Khi đó trẻ em không có khái niệm giữa ngày đi học và ngày nghỉ học bởi mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Khi đó ở một cấp học tương đương THPT bây giờ học sớm hơn ai cũng được tự do nghiên cứu tất cả những lĩnh vực ở chính môi trường mà họ đang học. Khi đó tình trạng phân ban không còn chênh lệch vì chẳng có ban nào hết. Khi đó sẽ chẳng còn ai học để đối phó mà đều học cho bản thân mình. Khi đó tất cả học sinh đều được theo đuổi đam mê một cách chủ động. Những kỳ thi đa dạng được tổ chức một cách chủ động và những còn người chủ động sẽ đến với nó để thể hiện bản thân, để chiến thắng và danh tiếng của nhà trường, của dân tộc cũng lên cao, cao mãi như gió mùa thu.
Những ai đến cùng tôi, chúng ta không phải máy móc, chúng ta là con người. Chúng ta không phải là loài ký sinh, chúng ta là những con người độc lập. Sự tồn tại của chúng ta độc lập trên cuộc đời này. Không có thứ gì được động chạm đến ngón tay sự tồn tại đó nếu chúng ta cho phép. Không phải một kỳ thi! Không phải một tờ giấy! Không phải lời phán xét từ trên cao mà là chính chúng ta — con người làm chủ tương lai của mình! Hãy bỏ những rác rưởi sau lưng mà lao ra ngoài biển xa trước mắt! Đừng lãng phí thời gian nữa! Không có gì quý hơn độc lập tự do! Và tự do khi tâm hồn được giải thoát. Chỉ có tự giải thoát cho chính bản thân mà có thể giải thoát cho tất cả.

Tất cả vì một nền giáo dục khai phóng!

Mới có mỗi một bạn phát biểu (không tính facebook),

Đào Hoa Đảo Chủ bi bô...

Dme... Thế kỷ 21, năm 2013 rồi, mà vẫn có những giống người, từ trẻ con đến người lớn, ngồi ngơ ngáo hỏi nhau "Học để làm gì?"

Thảo nào đến cái tên nước "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" cũng đặt sai ngữ pháp (dùng ngữ pháp Trung Quốc).

Công nhận thảm!

Giơ tay bi bô phát biểu bằng nick Google, WordPress...

Bi bô bằng nick facebook, Yahoo...