Tưởng niệm 28 năm sự kiện Gạc Ma

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Ngày 14/3/2016 dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ ven hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội; tượng đài Trần Hưng Đạo bên bến Bạch Đằng, thành phố Hồ Chí Minh, hàng trăm nhân sĩ trí thức và nhân dân đã xuống đường tưởng niệm 64 anh hùng liệt sĩ hy sinh trong sự kiện Trung Quốc nổ súng thảm sát ở đảo Gạc Ma, chính thức xâm lược quần đảo Trường Sa.

Bauxite Việt Nam

Hà Nội tưởng niệm 28 năm trận thảm sát ở đảo Gạc Ma

08h30 sáng 14/3, đông đảo các nhân sĩ trí thức và các tầng lớp nhân dân Hà Nội đã tề tựu tại Tượng đài Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội để tham dự lễ tưởng niệm 28 năm sự kiện Hải quân Trung Cộng nổ súng giết hại 64 chiến sĩ Việt Nam tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, Việt Nam.

Vào ngày 14/3/1988, hải quân Trung Cộng đã nổ súng giết hại 64 chiến sĩ Việt Nam tại đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, xâm lược và chiếm đóng một số đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam từ đó đến nay.

Để tưởng nhớ những chiến sĩ đã hi sinh, anh em No-U Hà Nội đã ra thông báo về lễ thắp hương tưởng niệm 28 năm Sự kiện Gạc Ma, tại Hà Nội.

08h30, sáng nay, 14/3, đông đảo các nhân sĩ trí thức và các tầng lớp nhân dân Hà Nội đã tề tựu tại Tượng đài Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm - Hà Nội để tham dự lễ tưởng niệm.

Tại buổi lễ, nhà báo Trần Đức Tiến đọc một bài thơ tưởng niệm 64 liệt sĩ hy sinh tại Gạc Ma. Anh Lã Việt Dũng đọc một bài diễn văn ngắn bày tỏ lòng xót thương và biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh vì Tổ quốc của 64 liệt sĩ quân đội tại quần đảo Trường Sa trong trận thảm sát ngày 14 tháng 3 năm 1988, 28 năm trước.

Sau đó, đoàn người đi viếng đã tuần hành quanh hồ Hoàn Kiếm, đi ngang qua trụ sở Công an quân Hoàn Kiếm và Báo Hà Nội mới hô vang ' Hoàng Sa", "Trường Sa", "Việt Nam", "Đả đảo Trung Quốc xâm lược"....

Đoàn tuần hành khoảng 200 người kết thúc hành trình tại chân tượng đài "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", hồi 10h sáng.

Trước đó, nhà giáo Đào Thu cho biết: "Sáng 14 tháng 3 năm 2016, tưởng niệm 28 năm trận thảm sát Gạc Ma, ngày 64 người con anh dũng của đất Việt ngã xuống khi bảo vệ biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi đã tới thắp hương tại Đài Liệt Sĩ quốc gia trên đường Bắc Sơn, Hà Nội.

Khoảng gần hai chục nhân viên an ninh, cảnh sát có mặt tại đó đứng ghi hình và quan sát hoạt động của chúng tôi. Một số nhân viên an ninh theo sát chúng tôi cũng đã cùng người của Ban quản lí khu tưởng niệm vào thắp hương cho các Liệt Sĩ cùng chúng tôi.

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Mặc Lâm

(biên tập viên RFA, Bangkok)

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc

clip_image001

Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này:

- Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:

- Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

Nỗi đau lớn nhất về Gạc Ma là sự lãng quên!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tướng Lê Mã Lương: 
'Nỗi đau lớn nhất về Gạc Ma là sự lãng quên'
 
Thất Sơn 
Chủ Nhật, ngày 13/3/2016

Trước giải thích của Cục Xuất bản về việc cuốn sách chưa được cấp phép, Thiếu Tướng Lê Mã Lương - chủ biên sách - bày tỏ: "Ý kiến của Cục xuất bản về việc lập Hội đồng lịch sử của Bộ quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân để thẩm định các chi tiết cuốn sách về Gạc Ma là một điều không tưởng.

 
Thiếu tướng Lê Mã Lương phát biểu trong buổi lễ cầu siêu tưởng niệm 64 liệt sĩ Gạc Ma và đấu giá tranh "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử", diễn ra vào ngày 22/7/2015. Ông Lê Mã Lương là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân sự Việt

Trong hai năm qua, sách Gạc Ma - Vòng tròn bất tử được đơn vị thực hiện bản thảo là công ty sách First News - Trí Việt gửi đến hơn 10 nhà xuất bản đều bị từ chối cấp phép. Ông Chu Văn Hòa - Cục trưởng Cục xuất bản, in và phát hành - cho biết bản thảo sách vẫn còn nhiều sự kiện, chi tiết chưa được thẩm định. Các Nhà xuất bản (NXB) muốn in cuốn này phải có hội đồng lịch sử thẩm định chuyên môn. Khi nhà xuất bản ra quyết định xuất bản, Cục Xuất bản, In và Phát hành sẽ có cơ sở để cấp xác nhận đăng ký đề tài sách.

Hiện First News vẫn tiếp tục tìm kiếm đơn vị xuất bản có thể liên kết thực hiện cuốn sách tri ân các liệt sĩ. "Chúng tôi xem đây là việc làm hết sức thiêng liêng và nghiêm túc. Chúng tôi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm về nội dung sách. Nếu đơn vị xuất bản thẩm định, trao đổi về mặt nội dung, chúng tôi sẽ hợp tác chặt chẽ, sẵn sàng biên tập nội dung khi có yêu cầu chính đáng, hy vọng sách sớm ra mắt bạn đọc", ông Nguyễn Văn Phước - giám đốc công ty First News nói.

Trước những giải thích của Cục về việc cuốn sách chưa được cấp phép, Thiếu Tướng Lê Mã Lương - chủ biên sách - bày tỏ: "Ý kiến của Cục xuất bản về việc lập Hội đồng lịch sử của Bộ quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân để thẩm định các chi tiết cuốn sách về Gạc Ma là một điều không tưởng. Nếu như vậy, chờ vài chục năm nữa hội đồng đó cũng chưa ra đời và cuốn sách cũng không thể xuất bản. Tôi đã phục vụ và làm việc trong quân đội gần 50 năm và biết rất rõ ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân không có hội đồng thẩm định đó".

Tướng Lê Mã Lương là tác giả của hơn 30 cuốn sách về đề tài chiến tranh. Theo ông, các nhà báo đóng góp bài viết cho cuốn sách Gạc Ma - Vòng tròn bất tử đã lặn lội đi gặp trực tiếp các gia đình liệt sĩ Gạc Ma và các chiến sĩ bị Trung Quốc bắt giữ thời đó để ghi lại sự việc. Theo người chủ biên, tất cả chi tiết và hình ảnh trong sách đều có trích nguồn, chính ông đã đọc và tìm hiểu rất kỹ về tính xác thực. Trong phần phụ lục có những bài phân tích Luật Biển quốc tế và chiến lược quân sự của những nhà học giả, khoa học nước ngoài, cùng những tấm ảnh chụp đảo Gạc Ma năm 2014 được Trung Quốc bồi đắp, xây dựng đường băng, căn cứ quân sự chụp từ vệ tinh của Kyodo (Nhật Bản) và Philippines. Các thông tin, hình ảnh này đã được công bố trên các tờ báo uy tín của họ.

37 năm: Tổng động viên chống quân trung quốc xâm lược

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

37 năm ngày Tổng động viên chống quân Trung Quốc xâm lược

VNE
Thứ bảy, 5/3/2016 | 00:00 GMT+7

Ngày 5/3/1979, trong tình thế cấp bách chống lại hơn nửa triệu quân Trung Quốc xâm lược biên giới phía Bắc, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng đã ra lệnh tổng động viên toàn quân, toàn dân kháng chiến.

 Bàn đăng ký Diệt quân Trung Quốc xâm lược.

Rạng sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km biên giới.


Mối quan hệ Việt - Trung rạn nứt năm 1968 khi Việt Nam giao hảo với cả Liên Xô và Trung Quốc, trong khi quan hệ Xô - Trung đang căng thẳng. Chiến thắng mùa xuân 1975 theo đánh giá của nhiều nhà sử học thế giới là kết quả Trung Quốc không mong muốn, khi Bắc Kinh và Washington đạt được một số thỏa thuận sau chuyến thăm của Tổng thống Nixon.

Tháng 5/1975, quân Khmer Đỏ đánh chiếm các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam tàn sát dân thường và đứng đằng sau là Trung Quốc tài trợ khí tài, cố vấn quân sự. Tháng 11/1978, Hiệp ước hữu nghị Việt - Xô được ký chính thức xác nhận Việt Nam đứng về phía Liên Xô.

Gần 2 tháng sau, quân đội Việt Nam tổng phản công trên biên giới Tây Nam, đánh sang Campuchia lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trung Quốc quyết định dừng viện trợ cho Việt Nam.

"Phải dạy cho Việt Nam một bài học", Phó thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi ấy tuyên bố.

Xem chi tiết đồ họa chiến sự năm 1979.

Cuộc chiến biên giới phía Bắc nổ ra giữa lúc các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đang chiến đấu với quân Khmer Đỏ ở Campuchia. Dọc tuyến biên giới chỉ có lực lượng chủ lực của các quân khu, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Tổng lực lượng phòng thủ của Việt Nam tại các tỉnh biên giới phía Bắc khoảng 50.000 quân. Trong khi Trung Quốc ước tính 600.000 với 9 quân đoàn chủ lực và 32 sư đoàn bộ binh độc lập, 6 trung đoàn xe tăng, 4 sư đoàn, trung đoàn pháo binh, phòng không cùng hàng trăm pháo hạng nặng, hàng nghìn súng cối và dàn hỏa tiễn. Có nơi, quân Trung Quốc thọc sâu vào đất liền đến hơn 40 km.

Bộ Quốc phòng Việt Nam quyết định điều động các sư đoàn bộ binh của các quân khu từ tuyến sau lên. Quân dân 6 tỉnh biên giới chủ động tổ chức lực lượng chiến đấu tại chỗ, cầm chân và đẩy lùi từng đợt tiến côngcủa quân Trung Quốc trong khi chờ quân chủ lực lên ứng chiến. Cùng thời điểm, một cuộc chuyển quân thần tốc lên biên giới phía Bắc của 3 quân đoàn chủ lực Việt Nam diễn ra bằng đường biển, đường bộ, đường hàng không. Liên Xô tương trợ cho Việt Nam bằng cách lập cầu hàng không lớn cơ động các đơn vị tại mặt trận Campuchia ra thẳng miền Bắc.

"Toàn thể già, trẻ, gái, trai đứng lên nhất tề bảo vệ tổ quốc'

Trước tình thế cấp bách, ngày 4/3/1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc.

Sáng 5/3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt kêu gọi: "Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa. Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ... Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc".

Lệnh tổng động viên được đăng trên báo Nhân dân ngày 6/3/1979. Ảnh: Hoàng Phương.

Ngay sau lời kêu gọi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Trường Chinh. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước. Mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều phải gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ; huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 - LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước. Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân. Trong đó, yêu cầu nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện, đều gia nhập hàng ngũ du kích và tự vệ. Ngoài ra, ai tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng. Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Bài xã luận trên báo Nhân dân ra ngày 5/3/1979 nêu rõ "Lời kêu gọi của trung ương là lời hịch quyết chiến quyết thắng của tổ quốc. Tất cả con em đất nước Việt Nam đang đi vào cuộc chiến đấu mới: cả nước đánh giặc, toàn dân là lính"… 50 triệu người Việt Nam khi ấy đã chuẩn bị sẵn sàng cho tình thế chuyển từ thời bình sang thời chiến.

Lệnh tổng động viên được ban bố, cũng trong ngày 5/3/1979 Trung Quốc bất ngờ tuyên bố rút quân, và rêu rao hoàn thành mục tiêu "dạy cho Việt Nam một bài học". Ngày 7/3/1979, thể hiện thiện chí hòa bình, Việt Nam tuyên bố cho phép Trung Quốc rút quân.

Ngày 18/3, Trung Quốc hoàn thành việc rút quân. Trước khi rút, chúng còn tàn phá một số làng mạc, phá hoại công trình di tích, bệnh viện, trường học, giết hại nhiều người dân vô tội.

Chiến sĩ Hà Ngọc Thơ (đoàn H45 Hoàng Liên Sơn) bị thương khi cùng đồng đội tiêu diệt quân Trung Quốc xâm lược. Ảnh tư liệu: Hoàng Như Thính.

Lệnh tổng động viên duy nhất từ 1975 cho đến nay

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, Chính ủy Sư đoàn 308 nhớ lại, thời điểm ra lệnh tổng động viên, ông đang công tác ở Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Nghe lệnh, cả Hà Nội sục sôi bởi "không người dân nào có thể khoanh tay khi đất nước lâm nguy". "Trước khi quân Trung Quốc đánh sang, chúng tôi đã được huy động đi đào chiến hào trên các ngọn đồi, khu vực Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Phòng tuyến ấy được kéo dài đến tận các tỉnh biên giới phía Bắc. Tức là, chúng ta đã có sự chủ động phòng thủ", ông kể.

Từ khắp các công, nông trường, xí nghiệp, thôn xóm có hàng nghìn lá đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trong phòng truyền thống của Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn ngày nay vẫn còn lá đơn viết bằng máu của thầy giáo Nguyễn Chiều, khi đó là giáo viên khoa Sử, Đại học Tổng hợp với quyết tâm: "Cho tôi trở lại quân đội bảo vệ tổ quốc".

Ông Hà phân tích, thời điểm tổng động viên, Hà Nội và cả nước đã sẵn sàng để bước vào một cuộc kháng chiến. Tính từ năm 1975 đến nay, đó là lệnh tổng động viên duy nhất được ban hành. Trước đó năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng ký Sắc lệnh Tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân để phục vụ cho nhu cầu kháng chiến chống Pháp đang đến giai đoạn tổng phản công. Trong kháng chiến chống Mỹ, lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1966 của Hồ Chủ tịch và những đợt huy động lực lượng dồn sức cho chiến trường miền Nam vào các năm 1972, 1974 chưa được gọi là tổng động viên.

"Từ khi lệnh tổng động viên được ban bố đến khi quán triệt đến toàn quân, toàn dân thì phải cần một quãng thời gian nhất định. Lệnh mới được ban ra, Trung Quốc rút quân nên lệnh tổng động viên chưa kịp thực hiện. Dù chúng ta không mong muốn, nhưng nếu quân Trung Quốc còn ở lại thì chắc chắn lệnh tổng động viên sẽ được thực hiện rất nhanh", ông đánh giá.

Cuộc chiến biên giới phía Bắc chính thức diễn ra từ ngày 17/2 đến ngày 5/3/1979 nhưng xung đột biên giới kéo dài dai dẳng đến tận năm 1988. Sau khi tuyên bố rút quân, Trung Quốc vẫn duy trì thường xuyên nhiều sư đoàn, trung đoàn độc lập áp sát biên giới Việt Nam gây căng thẳng nhằm lấn chiếm lãnh thổ. Có thời điểm 1984-1986, chiến sự diễn ra ác liệt ở mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) khi quân đội Việt Nam tổ chức phản công giành lại các điểm cao biên giới bị quân Trung Quốc lấn chiếm trái phép.

Nhiều đợt nhập ngũ vẫn diễn ra, các đơn vị chủ lực của quân đội Việt Nam thay phiên nhau đưa quân lên bổ sung cho chiến trường phía Bắc. Hàng chục nghìn thanh niên Việt Nam lứa tuổi 18-20 đã mãi mãi nằm lại nơi biên giới phía Bắc trong cuộc chiến chống lại quân Trung Quốc xâm lược.

Tháng 11/1991 Việt Nam - Trung Quốc tuyên bố bình thường hoá quan hệ.

Video lời kêu gọi Tổng động viên toàn quốc kháng chiến

Hoàng Phương

(Bài viết của tác giả Xuân Nguyên)

Tướng Lê Mã Lương: "Không sợ chiến tranh nên mới có hòa bình"

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Thiếu tướng Lê Mã Lương: Trong lịch sử, Trung Hoa đã phát động 16 cuộc chiến tranh lớn hòng thôn tính Việt Nam. 

Tướng Lê Mã Lương: 
"Không sợ chiến tranh nên mới có hòa bình"

QUỐC TOẢN (THỰC HIỆN) 
Giáo dục Việt Nam
24/02/16 09:47

(GDVN) - Chúng ta đã để lại “khoảng lặng” hàng thập kỷ về chiến tranh Biên giới 1979. Sự thiếu sót này là có tội với lịch sử, tiền nhân, đồng bào... 
 Tướng Lê Mã Lương: Nếu không lường trước nguy cơ, con cháu sẽ phải gánh hậu họa

LTS: Thông tin thời gian tới, khi công bố khung chương trình tổng thể, chương trình bộ môn, Bộ GD&ĐT sẽ xem xét để đưa nội dung về các cuộc chiến tranh vệ quốc bảo vệ biên giới, hải đảo (1976 - 1988) vào sách giáo khoa khiến dư luận hết sức quan tâm.


Trước đó, nội dung về cuộc chiến tranh vệ quốc này chỉ được đề cập rất ít trong sách giáo khoa...

Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc phỏng vấn với Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân sự Việt Nam.

PV: Theo ông, cần nhìn nhận như thế nào cho đúng với bản chất cuộc chiến tranh Biên giới 1979?
 
Tướng Lê Mã Lương: Về bản chất, đây là một cuộc chiến tranh xâm lược mà đối phương đã có ý đồ (từ những năm 50 của thế kỷ trước), nhằm đưa các nước Đông Nam Á vào trong quỹ đạo của Trung Quốc.

Mặt khác, Việt Nam là nước có một vị trí chiến lược, địa chính trị cực kỳ quan trọng ở Đông Nam Á.

Trong lịch sử, Trung Hoa đã phát động 16 cuộc chiến tranh lớn hòng thôn tính Việt Nam, dùng Việt Nam để thôn tính Đông Nam Châu Á.

Nhà cầm quyền Trung Quốc lúc bấy giờ muốn nắm Việt Nam, khống chế bán đảo Đông Dương, tạo hành lang xâm nhập Đông Nam Á.

Họ coi chúng ta là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược “trỗi dậy Trung Hoa” như cái cách ông Chu Ân Lai từng nói trong cuộc gặp giữa đại biểu 4 đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a, Lào) tại Quảng Đông tháng 9/1963.

"Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cửa một con đường xuống Đông Nam Châu Á..."

Đó là nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế, ngăn cản cách mạng của chúng ta lớn mạnh để tiện thực hiện âm mưu mở rộng ảnh hưởng của mình.

Rằm tháng Giêng trẩy hội đền Và

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Rằm Tháng Giêng trẩy hội Đền Và


Nguyễn Xuân Diện

Trong không gian hùng vĩ, thơ mộng với những núi đồi sông suối quanh quất, xinh tươi, đền Và hiện ra như một công trình kiến trúc thâm nghiêm và hòa quyện với rừng lim già tỏa bóng rợp quanh năm. Đền Và, xã Trung Hưng, thị xã Sơn Tây là một trong bốn cung thờ Thần Núi Ba Vì - Tản Viên Sơn Thánh, Đệ Nhất Phúc Thần trong Tứ bất tử của tâm thức dân gian Việt Nam, đây cũng là một trong hàng trăm di tích thờ cúng Ngài.

alt
Đền tọa lạc trên một gò đất rộng và thấp hình một con rùa đang duỗi bốn chân và ngóng đầu xuống đầm Vân Mộng hướng về phía mặt trời mọc. Vào những ngày xuân, cả không gian chìm trong màn sương mờ huyền ảo nơi cánh đồng có tên gọi Khói Nhang bao quanh khu đền cổ...Ngay lối vào đền là tấm bia Hạ mã tự nói lên quy mô và tầm quan trọng của ngôi đền. Xưa, bất kể là vua, quan hay dân thường đều dừng mọi xe kiệu trước tấm bia này để tỏ lòng thành kính với thần Tản Viên. Một con đường sạch sẽ cát mịn dưới bóng mát rừng lim già dẫn vào khu đền chính.

altKhu vực bên ngoài là giếng nước và điện thờ Cô Chín Thượng Ngàn, người quản cai non ngàn thăm thẳm. Bên cạnh là động Ngũ hổ, có thờ tượng năm ông hổ, năm màu sắc, trấn giữ các phương, biểu tượng của đại ngàn uy nghiêm.

altNghi môn trông như một tòa Ngọ môn uy nghi hiện ra trong tán lá cây đại già có đến mấy trăm năm tuổi, dẫn vào cảnh quan bên trong, với gác trống gác chuông kiến trúc xinh xắn, thanh thoát đối xứng nhau qua sân gạch Bát Tràng rộng thênh thênh. Hai dãy tả hữu mạc hai bên và tòa tiền tế ở giữa mái rêu cổ kính.

alt
Đền Và - một ngôi đền văn học
.
Tòa tiền tế là một toà nhà 5 gian, để thoáng bốn bề, treo la liệt các hoành phi câu đối trải các triều đại đều do các nhà Nho, các danh sĩ soạn ra, mà nét vàng son và ý tứ thâm trầm mãi còn nhắc nhớ đến uy linh của Thần. Kia là bức gỗ khắc bài thơ mà tác giả là Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản, anh trai thi hào Nguyễn Du, khi ông làm Trấn thủ Sơn Tây có đến đền tạ ơn Thánh Tản ba lần. Ông viết: “Chiêm bái chút từng ba độ đến / Trộm nhờ linh đức trấn phương Đoài”.

Nhớ Hội Lim, nương vào câu ca Quan họ

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Nhớ nhau, nương vào câu ca quan họ
Nguyễn Xuân Diện

Cho đến nay, đã từng có rất nhiều giả thuyết về sự ra đời và nguồn gốc của quan họ nhưng chưa có giả thuyết nào được chấp nhận một cách tuyệt đối. Ngay chữ Quan họ, chúng ta cũng chưa tìm được một văn bản Hán Nôm nào chép hai chữ này. Quan họ có từ bao giờ cũng chưa có câu trả lời xác quyết!

Không gian văn hóa quan họ trải dài khắp 49 làng quan họ cổ của trấn Kinh Bắc xưa, nay thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang. Đó là vùng đất cổ xưa, với những ngôi chùa hàng ngàn năm tuổi, những hội hè đình đám, những phong tục tốt đẹp, những vị công hầu khanh tướng, những ông nghè ông trạng và những giai nhân tài sắc. Người Kinh Bắc có câu: Em đi khắp bốn phương trời/ Không đâu lịch sự bằng người ở đây.

Thời gian của Quan họ là suốt bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông. Nhưng mùa Xuân mới thực sự là mùa của quan họ. Khi ấy “thong thả nhân gian nghỉ việc đồng”, các làng vào đám, nam thanh nữ tú đua nhau trẩy hội tưng bừng. Người Kinh Bắc hát quan họ trên thuyền, trên đồi, trong chùa, trong đình, và trong các tư gia...

Trai gái các làng quan họ lại thường tụ tập thành từng bọn (từ cổ, chỉ một nhóm người) để cùng nhau hát. Một bọn quan họ thường là những người trong một làng với nhau, với ý là để đối đáp với làng khác. Gặp nhau, người quan họ dùng những lời xưng hô thật nhún nhường, lịch sự. Bên nào cũng vui vì gặp gỡ, cũng mong được học lấy đôi lối đôi câu. Những bọn quan họ gặp nhau, thường là hát với nhau thâu đêm suốt sáng ở nhà chứa (nhà ông trùm của một bọn quan họ), và nghỉ lại ở nhà quan họ bạn của mình. Đó là tục ngủ bọn, có từ thưở xa xưa lắm!

Về lề lối, theo học giả Toan Ánh thì quan họ có nhiều giọng, nhưng có ba giọng chính để hát đối đáp trong những ngày hội. Đó là Giọng sổng (dùng để dạo giọng lúc bắt đầu hát), thường là những lời ướm hỏi như: Hôm nay tứ hải giao tình/ Tuy rằng bốn bể nhưng sinh một nhà. Tiếp theo là Giọng vặt (những câu hát để đôi bên gắn bó với nhau). Giọng sổng chỉ có một giọng, còn giọng vặt thì là gồm nhiều giọng: giọng buồn, giọng vui, giọng cao, giọng thấp, giọng ngắn, giọng dài. Gặp nhau, người quan họ kể cho nhau rằng đêm đông lạnh giá, nhớ bạn, không dám, một mình đắp cả manh chiếu tấm chăn:

Tướng Lê Mã Lương: CẦN SỰ TÔN VINH XỨNG ĐÁNG!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương: Không tô vẽ cũng không xóa nhòa, chỉ cần làm sáng tỏ cho đúng tính chất của cuộc chiến, thế là đủ!
.
Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương:

Chiến tranh biên giới Việt - Trung 1979: 
'Đã đến lúc phải đưa lịch sử về đúng giá trị của nó'
16.02.2016

Thiếu tướng, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương nhận định: “Đây thực chất là một cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ Biên giới phía Bắc mà quân dân ta đã chiến đấu và chiến thắng. Cần phải tự hào về điều này cũng như phải có hành động tương xứng với giá trị của những sự cống hiến, hy sinh lớn lao và bi hùng đó”.

Chuyện của người trong cuộc chiến

Là một người lính bộ đội Cụ Hồ trưởng thành từ những năm kháng chiến chống Mỹ, Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương từng tham gia với vai trò cán bộ Trung đoàn 568, thuộc Sư đoàn 328 trực tiếp chiến đấu tại mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) vô cùng ác liệt.
Chính ông là một trong số các nhân chứng lịch sử quan trọng cho chuỗi thời gian mà ông cùng với các đồng đội của mình cùng sát cánh bên nhau chống quân xâm lược Trung Quốc xâm phạm biên giới Việt Nam từ năm 1976 tới mãi năm 1988.
Nhân dịp kỷ niệm 37 năm cuộc chiến tranh bảo vệ Biên giới phía Bắc(17/2/1979 - 17/2/2016), Thiếu tướng - Anh hùng LLVTND Lê Mã Lương (Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam) đã có cuộc chia sẻ với phóng viên Báo điện tử PetroTimes để nói rõ hơn những điều mà chỉ có người trong cuộc mới có thể hiểu được cũng như nguyện vọng muốn gửi gắm tới thế hệ tương lai của đất nước.
.Mở đầu câu chuyện, tướng Lương khẳng định: “Trong hệ thống từ điển, tư duy quân sự hay trong gen của con người Việt Nam thì chưa bao giờ xuất hiện cụm từ “sợ hãi”, “lo sợ” cả. Ngay từ buổi đầu dựng nước thời Hùng Vương cho tới thời đại Hồ Chí Minh và đến ngày nay cũng vậy, người Việt Nam không bao giờ biết sợ hãi kẻ thù cả. Và lịch sử đã chứng minh rõ ràng rồi”.
Ông cũng nêu rõ, Việt Nam tuy là nước nhỏ nhưng trong tư duy và chiến lược phòng thủ đất nước thì không hề nhỏ. Chúng ta không bao giờ chủ động gây chiến trước, chỉ khi nào tình thế bị ép buộc thì phải đứng lên đánh đuổi kẻ thù xâm phạm đến biên cương, bờ cõi mà thôi.

Tết thế kỷ XVII

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tết Nguyên đán là những ngày vui vẻ nhất trong năm của người Việt Nam. Joseph Tissanier, người Pháp, sống ở Thăng Long từ 1658-1663 đã dự năm cái Tết ở đây, tả rõ rằng, vào dịp này người Việt sửa soạn mọi cái cho long trọng, từ nhà cửa đến đề ăn, áo mặc. Túng cực đến đâu cũng phải kiếm cho đủ tiền bạc tiêu dùng ba ngày Tết. Có những kẻ nghèo khổ, phải đi ăn cắp vặt hoặc dùng võ lực cướp của người khác, hầu được sống dung dung trong những ngày đầu Xuân [1]. Vì vậy trong những đêm gần Tết, nhiều nhà phải thức đêm canh trộm.

Cuối năm, các chợ Tết hết sức nhộn nhịp, vì mọi người giàu sang, nghèo hèn đều đi mua sắm. Quan cũng như dân đều lo may quần áo mới, dọn dẹp nhà cửa cho khang trang, sửa sang võng cáng, tàn lọng, đắp lại mồ mả, cột nhà tường vách treo đầy câu đối, tranh vẽ, vua chúa cũng cho quét dọn lăng tẩm…[2]

Theo Bento Thiện viết năm 1659: “đến gần ngài bết bua chúa ban lịch cho thiên hạ xem ngài” [3], trong đó những ngày nghỉ Tết được ấn định rõ ràng. Thường bắt đầu nghỉ từ ngày 25, 26 tháng chạp, và có thể kéo dài tới ngày 10 hay 15 tháng giêng. Những ngày đó, nếu có chiến tranh, cũng tạm ngưng để ăn Tết. Từ ngày 25 tháng chạp, ấn dấu của vua chúa, quan quyền đều được lau chùi sạch sẽ, cất vào hộp, không dùng tới; khí giới quân đội cũng lau lọt sáng nhoáng để một nơi.

Chúng ta thử coi, năm 1659 thầy giảng Bento Thiện đã viết về Tết Nguyên đán thế nào: “Thói nước Annam, đầu năm mùng một tháng giêng gọi là ngày Tết. Thiên hạ đi lạy vua, đoạn lạy chúa, mới lạy ông bà ông vãi, cha mẹ cùng kẻ cả bề trên. Quan quyền thì lạy vua chúa, thứ dân thì lạy Bụt trước. Ăn tết ba ngày, mà một ngày trước mà xem ngày mùng hai, mùng ba, ngày nào tốt, thì vua chúa đi đền giao, gọi là nhà thờ. Trời, hiệu Thiên Thượng Đế Hoàng địa kì. Vua chúa đi lạy mà xin cho thiên hạ được mùa cùng dân an. Đến mùng bảy mùng tám mới hết, cùng làm cỗ cho thiên hạ ăn mừơi ngày. Lại xem ngày nào tốt, mới mở ấy ra cho thiên hạ đi chầu cùng làm việc quan, cùng hỏi kiện mọi việc; lại làm như trước mới khai quốc, thiên hạ vào chầu vua. Từ ấy mới có phiên đi chầu. Nội đài, ngoại hiến, phủ huyện, quan đăng nha môn, mới có kiện cáo”. Chính Bento Thiện lại viết chữ quốc ngữ đoạn trên như sau: “Thóy nước Annam, đầu Năm mùỏ một tháng giang gọi là ngài tết. Thien hạ đi lại bua, đoạn lại chúa mớy lại oủ bà oủ bải cha mẹ củ kẻ cả bề tiên, quan quièn thì lại bua chúa, thứ dân thì lại bụt tlưác, ăn tết ba ngài mà một ngài tlưác mà xem ngài mùỏ hay mùỏ ba, ngài nào tốt, thì bua chúa đi đền giao, gọi là nhà thờ blờy hiẹu thien thưạng đế hoàng địa kì. Bua chúa thì lạy mà xin cho thien hạ được mùa củ dân an, đến mùỏ bải mùỏ tám mớy hết củ làm cỗ cho thien hạ ăn mươỳ ngài, lại xem ngài nào tốt, mơý mở ấn ra cho thien hạ đi chầu củ làm vịec quan, củ hỏi kịen mọy vịec, lại làm như tlưác mớy khai cuác, thien hạ bào chầu bua,từ ấy mớy có phien đi chầu, nộy đài ngoặy hién phủ huịen quan đảng (đăng?) nha môn, mớy có kịen cáo”[4]

Mấy ngày cuối năm, một số người già cả không dám ở nhà mình, nhưng phải đi trú trong đền chùa, được coi là chốn nương thân an toàn nhất. Vì họ tin rằng, dịp này có một thứ “quỷ” tên là Thưang (Thương) hay Voutuan (Vũ tuần) [5] chuyên đi bóp cổ sát hại những người già nua, nam cũng như nữ. Do đó nhiều người giả phải lẩn tránh trong đền, chùa cả ngày đêm không dám bước ra ngoài. Mãi đến lúc giao thừa họ mới dám về nhà, vì nghĩ “quỷ” ác ấy đã đi khỏi. Bởi đấy dân chúng gọi ba ngày cuối năm là ba ngày chết. Cuối năm nhiều người còn dùng vôi vẽ trước cổng ngõ, những hình vuông, tròn, hay tam giác, nhất là hình con mèo, trong số các hình, thì hình tam giác và con mèo làm cho ma quỷ sợ nhất. [6]

Tối ba mươi Tết mọi nhà đều dựng cây Nêu trước cửa. Đó là một “cột” thường làm bằng tre, cao hơn nóc nhà một chút (nên biết, ở thủ đô Thăng Long thế kỷ XVII, chỉ có nhà trệt, kể cả đền đài vua chúa). Gần ngọn cây Nêu người ta cột một cái giỏ hay chiếc hộp thông nhiều lỗ, bên trong đựng vàng mã. Vì theo Alexandre de Rhodes, dân chúng tin rằng, dẫu ông bà cha mẹ đã chết, nhưng các ngài cũng cần tiêu xài, và nhất là để trả những món nợ chưa xong khi còn sống. Theo phong tục Việt Nam thời đó, cứ cuối năm mãn chạp, liệu sao tính sổ sách cho xong: ai còn nợ, cố gắng trả cho sạch; nếu có tiền cho vay cũng phải đòi lại hết. Không ai muốn để giây dưa sang năm mới. Mọi thứ nợ cũ phải thanh toán hoàn toàn, trừ trường hợp bất khả kháng. Bởi lẽ, còn nợ sợ rằng, nếu đến ngày ba mươi Tết mà chưa trả, lỡ ra chính ngày mồng Một chủ nợ đến nhà đòi, thì thật là xui xeo suốt cả năm. [7]

Theo tài liệu viết tay bằng chữ Quốc ngữ của Thầy giảng Bentô Thiện năm 16559, mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên, thì dân chúng lại dựng cây Nêu vào sáng ngày mồng Một; điểm này có lẽ ông Thiện ghi không đúng. Còn về ý nghĩa cây Nêu, ông Thiện lại trình bày khác. Theo ông, thì tục truyền rằng Đức Phật và quỷ tranh giành đất nhau. Đức Phật nói cho quỷ hay, hễ ngài trải áo cà sa tới đâu thì đất đó thuộc về ngài, còn lại là phần quỷ. Vậy Đức Phật trải áo ngài ra khắp mặt đất, làm cho quỷ không có đất ở, đành phải xuống biển. Nhưng cứ hết năm cũ, ma quỷ lại tranh đất với Đức Phật. Bởi đấy, mọi người phải dựng cây Nêu từ sáng sớm ngày mồng Một, để quỷ biết rằng đó là đất của Đức Phật đã trải áo cà sa tới; còn ai không dựng cây Nêu là đất của quỷ. [8]

Đến nửa đêm giao thừa, trong vương phủ (phủ chúa Trịnh) ba súng đại bác nổ vang báo hiệu bước sang năm mới. Theo Marini, người Ý, sống ở Đàng Ngoài từ 1647-1658, thì chính lúc giao thừa mọi người đều hội họp trong nhà và bó buộc phải mở cửa hầu đón tiếp tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Giường chiếu cũng đã dọn sạch sẽ, để tổ tiên nghỉ ngơi sau nhiều ngày đàng mệt nhọc mới về tới nhà con cháu. Ngoài ra cũng đặt ngoài hiên nhà một chậu nước sạch, một đôi giép hay guốc, và có khi hai cây mía nữa. Làm thế để hồn tổ tiên trước khi vào nhà cũng rửa chân, đi guốc cho sạch, trước khi lên giường; còn hai cây mía được coi như hai chiếc gậy giúp tổ tiên chống bước vào nhà. Mọi người sau giờ giao thừa, đều tưởng tượng là tổ tiên đã vào nhà cách vô hình [9]. Lúc đó gia trưởng nói mấy lời chúc mừng tổ tiên. Trên bàn thờ tổ, khói hương nghi ngút. Gia trưởng cùng mọi người trong nhà làm lễ cùng vái, tạ ơn tổ tiên, mời tổ tiên cùng chung vui với họ, và xin phù hộ cho con cháu năm mới được bằng an, khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Liền đó trong gia đình mừng tuổi nhau: con cái lạy cha mẹ, tôi tớ lạy chủ nhà, rồi cha mẹ ban quà mừng tuổi cho con cháu, tôi tớ.

Trong ba ngày tết, nhất là ngà mùng Một, người ta đi chúc tuổi nhau; vào nhà nào cũng được mời ăn, nếu từ chối là bất lịch sự. Ngày mồng Một Tết, khi vừa ra đường mà trước tiên lại gặp phải người đàn bà, thì họ liền về nhà, chờ hai, ba giờ sau mới dám ra đường; trái lại họ sẽ gặp xui. Nhưng nếu bước chân ra đường, trước tiên lại gặp được một người đàn ông, thì thật hên. [10]

Đi Tết ai, thường cũng tết thêm mấy bánh pháo to nhỏ tuỳ theo cấp bậc, địa vị; vừa xướng Tết xong, người ta liền đốt pháo cho ran nhà, cho tà ma bỏ chạy, để hạnh phúc tràn tới. Người dưới phải đem đồ, hoặc cho người đại diện đi tết người trên. Con cháu phải tết ông bà, cha mẹ, chú bác; trò phải tết thầy… Các quan cấp dưới cũng phải gửi đồ tết quan trên. Vì vậy nhà các đại quan tràn ngập đồ tết. Thường thường các vị đó lại đem tặng bạn bè, hoặc cho quân lính, kẻ hầu hạ, để mọi người được hưởng lộc. Tất cả các quan lại không buộc dâng đồ Tết vua chúa.

Đồ tết của người dưới đối với người trên hầu hết là thực phẩm: gạo, heo, gà, vịt, cau, đường, trái cây, bánh, mứt… Nếu là quân lính, sẽ họp nhau cùng tết viên quan chỉ huy trực tiếp. Họ mang đồ Tết đến nhà quan bằng một nghi thức trang trọng: đi đầu là cai đội (chỉ huy từ 2 đến 6 thuyền, mỗi thuyền từ 30 đến 60 lính) rồi đến lính bưng một quả (hộp) gạo), và khênh con heo mới giết đặt trên bàn, để trước mặt quan. Viên quan ngồi giữa nhà thật oai nghiêm. Quân lính lạy quan sát đất ba lần. Quan nhận đồ Tết, rồi bảo người hầu đem cất đi; sau đó ban quà mừng tuổi cho lính tương xứng với đồ Tết. Còn quà mừng tuổi của vua chúa cho các quan là một bộ phẩm phục, đặt trong quả (hộp) áo sơn son vẽ rồng, cùng một mẫu. Vua chúa sai người bưng quả áo đến nhà viên quan, đi theo có lính che lọng quà mừng tuổi. Việc che lọng trên không có ý tránh mưa nắng, nhưng chỉ là tỏ sự cung kính món quà vua chúa ban.

Ba ngày cuối năm, bốn mươi đại quan thuộc triều đình và vương phủ, đi nhận lời tuyên thệ trung tín của các quan văn võ, và có khi cả gia đình họ nữa. Đó là lời thề trung thành với vua chúa; nếu nhận thấy điều gì có thể nguy hại cho vua chúa hoặc cho quốc gia, họ phải đi tố cáo. Đấy là lễ tuyên thệ tại thủ đô Thăng Long. Còn tại các Xứ, thì quan Trấn thủ, Đốc trấn và Lưu thủ [11] đại diện cho vua chúa, nhận lời thề các quan trực thuộc. Trong dịp này bất kể ai tố cáo ra một cuộc mưu phản, thế nào cũng được thưởng. Phần thưởng không những tuỳ theo tính cách quan trọng vụ âm mưu, mà còn theo chức tước người tố cáo. Nếu kẻ tố cáo là một viên quan, thì họ chỉ được hưởng tuỳ theo ý muốn vua chúa, vì nhiệm vụ của họ là phải giữ trật tự an ninh quốc gia; nếu là người dân thì được thuởng cho một phẩm hàm hoặc được thăng quan chức; hơn nữa khi tố cáo được vụ phản loạn lớn, chúa Trịnh còn ban thêm cho họ tới 500 lượng vàng hoặc 5.000 lượng bạc. Tuy nhiên dân chúng không chuộc tiền thưởng bằng được thăng quan. [12]

Ngày ba mươi Tết, Tây định vương Trịnh Tạc cùng quan quân theo hầu, ra khỏi vương phủ để đi tắm ở sông hoặc tại một chiếc nhà gần đó, hầu thanh tẩy cuộc sống dĩ vãng, đón nhận đời sống mới trong năm tới. [13]

Sáng ngày mồng một Tết, cũng như ngày một và rằm mỗi tháng chúa Trịnh cùng các quan đến chầu vua Lê; dĩ nhiên ngày mồng Một Tết buổi chầu được tổ chức long trọng hơn cả [14]. Nhưng khi Trịnh Tạc thế vị cha lên cầm quyền (1657), ông lấn đoạt quyền hành vua Lê nhiều hơn, ông cũng không đi chầu vua vào các ngày mồng một và rằm mỗi tháng. Hơn nữa, dường như từ năm 1658 trở đi, Trịnh Tạc cũng không đích thân đi tết vua, mà chỉ đón vua đi tế Nam giao. Tuy nhiên, ông cử một quan đại diện đến tết vua và chầu vua mỗi tháng hai lần.

Sau khi tết vua, các quan trở lại tết chúa. Theo Tissanier và Tavernier thì khung cảnh tết chúa long trọng hơn tết vua nhiều. Khi các quan đi chầu hoặc tết vua chúa, phải mặc áo tím, đội mũ lục lăng và phải lạy sát đất 4 lần [15]. Riêng nữ giới chỉ buộc lạy một lần theo kiểu lạy của họ (ngồi mà lạy). Dịp này cũng như các dịp khác ai muốn dộng [16] xin ân huệ gì, thì đội của lễ lên đầu, hoặc bưng cao ngang trán, tiến gần tới chúa để nói. Nếu chúa nhận lời, ngài sẽ bảo người hầu cất của lễ đi; bằng không, thì chúa cũng không nhận của lễ.

Đúng mồng ba Tết chúa Trịnh mới tiếp người ngoại quốc đến dâng tuổi. Dịp tết Canh Tý, Vĩnh thọ năm thứ 3 (1660), phái đoàn Trung Hoa chúc tuổi chúa Trịnh Tạc trước hết theo nghi lễ Trung Hoa, rồi lại lạy chúa theo nghi lễ Việt Nam, phái đoàn Hòa Lan chỉ chào chúc chúa theo nghi thức Hòa Lan…. Còn hai linh mục dòng Tên Onuphre Borgès (Thuỵ Sĩ) và Joseph Tissanier (Pháp) lại lạy hoàn toàn theo kiểu Việt Nam. Tissanier thuật rằng, ngày đó trước vương phủ đông nghẹt người không dễ gì chen chân được. Cũng may hai ông vào được tới một sân lớn để lạy chúa. Các ông cũng mặc áo thụng tím, đội mũ lục lăng, lạy chúa Trịnh Tạc bốn lạy sát đất trước mặt 4.000 người. Khi Tây định vương Trịnh Tạc thấy hai linh mục, ông làm hiệu cho hai vị lạy vương thái hậu (mẹ chúa) đang ngồi cạnh ông. Tức thì Borgès và Tissanier cũng lạy vương thái hậu bốn lần. [17]

Chính ba ngày Tết, nhiều người đều kiêng giữ không quét nhà, có nơi kiêng cả nấu ăn [18]. Tết là dịp nghỉ ngơi, xem ca hát tuồng kịch, đánh bài bạc; cũng vì thế mà nhiều người sạt nghiệp vì Tết.

Nhìn lại một số khía cạnh lịch sử tết nguyên đán thế kỷ XVII, chúng ta thấy ngay được những gì đã biến mất, những gì còn lại ngày nay. Thật ra, tinh thần Tết nguyên đán xưa và nay cũng không khác nhau, nó là dịp long trọng nhất để cấp dưới tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với cấp trên: vua đại diện toàn dân “đi đền giao, gọi là nhà thờ Trời, hiệu Thiên Thượng Đế Hoàng địa kỳ”, các quan lại tết vua chúa, con cháu tết cha mẹ ông bà, gia đình xum họp lúc giao thừa đón tổ tiên, trò tết thầy v.v… Mối liên hệ chiều ngang trong dịp này bị xẹp xuống, để làm nổi mối liên hệ chiều dọc trong xã hội gia đình, quốc gia, và cả cái “xã hội” nhân thần, hay nói rộng hơn là sự giao hòa giữa người với Trời Đất, tức tam tài Thiên Địa Nhân.

Về hình thức, Tết vẫn là những ngày lễ nghỉ lâu dài, long trọng và vui vẻ nhất trong năm; vì thời đó, ngoài dịp đầu Xuân, thường thường chỉ có lệ nghỉ ngày một và rằm mỗi tháng chứ không nghỉ ngày Chúa nhật như hiện nay. Chúng tôi xin tạm ngừng ở đây mà không muốn đi sâu vào vấn đề ý nghĩa các phong tục rườm rà Tết nguyên đán, hoặc những nguyên nhân xã hội đã thay đổi nhiều hình thức và cơ cấu Tết nguyên đán ngày nay so với giữa thế kỷ XVII.

Chú thích:
[1] “Ceux qui ne trouvent dans leur maison, ni argent, ni habits, en vont chercher ailleurs par des larcins cachez, ou par la force de leurs armes” (J.Tissanier, Relation du voyage… depuis la France jusqu’au Royaume de Tunquin, Paris 1663, tr.265-266).
[2] J.P de Marini, Relation nouvelle et eurieuse des Royaumes de Tunquin et de Lao, Paris 1666, tr.245-246.
[3] Archivum Romanum S.I, JS, 81.f.257v
[4] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Sài gòn 1972, tr.119-120, 145 - Archivum Romanum S.I, JS, 81.f.257r
[5] Alexandre de Rhodes, Relazione del Tunchino, Roma 1650, tr.108-109.
[6] J.B.Tavernier, Suite des voyages de Mr.Tavenier, chevalier, baron d’Aubonne, IV Paris 1680, tr.94.
[7] Alexandre de Rhodes, Relazione del Tunchino, Roma 1650, tr.109-110.
[8] Đỗ Quang Chính, sđd, tr.121, 146.
[9] Marini, Relation nouvelle, sđd, tr.251-252.
[10] J.B.Tavernier, Suite des voyages de Mr.Tavenier, chevalier, baron d’Aubonne, IV Paris 1680, tr.95
[11] Cai trị Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, An Quảng do quan Trấn thủ; cai trị Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An do quan Đốc trấn; cai trị Thanh Hóa, Tuyên Quang, Hưng Hóa do quan Lưu thủ.
[12] J.B.Tavernier, sđd, tr.65.
[13] “… đến ngài ba mươy thì đức chúa đi giội gọy là bỏ mọy sự cũ đi mà chịu mọy sự mớy” (coi Đỗ Quang Chính, sđd, tr.121, 146) - “Le dernier jour de l’an, le Roy (chúa Trịnh Tạc) sort de son Palais auecque son armée, pour s’aller lauer à la riuiere, ou dans quelque maison voisine” (J.Tissanier sđd, tr.266).
[14] A.F.Cardim, Relation… Paris, 1646 tr.59.
[15] J.Tissanier, sđd, tr.260 - J.B.Tavernier, sđd, tr.64.
[16] Dộng là tiếng để nói với chúa Trịnh; cũng như khi nói với vua thì dùng tiếng tâu (tâu vua, dộng chúa); nói với đại quan dùng tiếng bẩm; với quan nhỏ, tiếng trình; với vai trên, thưa. Như vậy trong thuật ngữ xưng hô đẳng cấp xã hội, tiếng dộng ở cấp thứ hai.
[17] J.Tissanier, sđd, tr.270-272.
[18] Marini, Relation nouvelle, sđd, tr.253

(Đỗ Quang Chính, sj.)

(Bài viết của tác giả Lyhong Tuan)

Em nói thật, em không thích Tết lắm đâu!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Người Việt có thói quen quan tâm tới cuộc sống cá nhân của nhau. Nhưng điều này không phải phù hợp, thậm chí thành khiếm nhã. Tết là dịp điều này thể hiện rõ nhất.

Bao giờ lấy chồng? bao giờ đẻ con?

Khi được hỏi việc chuẩn bị Tết, cô em tôi chép miệng: “Em ngán Tết lắm rồi, chỉ thích bỏ đi chơi đâu xa”

“Sao thế? Dịp xum họp gia đình, gặp gỡ bạn bè mà!”

“Gặp rồi ai cũng hỏi sắp lấy chồng chưa, và sẽ phải trả lời cùng một câu hỏi đó suốt mấy ngày liền, nói đi nói lại. Có năm em định trốn ở nhà, nhưng rồi cũng có khách của bố mẹ đến, cũng phải tiếp, rồi cũng vẫn phải trả lời cùng câu hỏi ấy.”

Nghĩ lại thì tôi thấy khó cho cô em thật. Tết là dịp người Việt ‘tung ra’ vô số câu hỏi khiến người được hỏi bối rối, mặc định rằng đó là hình thức thể hiện sự quan tâm. Chưa chồng hỏi sắp lấy chồng chưa? Chưa đi học hỏi bao giờ đi? Đi làm rồi hỏi làm công ty nào? Lương bao nhiêu: Nếu đối tượng mới cưới thì thể nào cũng hỏi sắp có em bé chưa, rồi chúc cuối năm có em bé... v.v...

Nhìn bề ngoài, những câu hỏi thăm ấy có vẻ vô hại nhưng mang lại cho người bị hỏi áp lực tâm lý và sự khó xử không nhỏ. Cô gái “nhỡ thì” hay đánh mất tình yêu bị xoáy vào nỗi buồn. Người hiếm muộn cười gượng hay cậu trai mới đi làm bối rối về đồng lương khởi nghiệp.

Khổ nỗi, với nhiều người, không hỏi những câu như thế thì họ không biết nói gì khác, hỏi những câu gì khác. Cách thức ấy đã thành thói quen giao tiếp hàng trăm năm của người Việt. Nhưng không phải cái gì tồn tại lâu thì được phép chấp nhận. Cuộc sống thay đổi đòi hỏi văn hoá giao tiếp cũng cần thay đổi, nhanh hay chậm là do ý thức của mỗi chúng ta và quan trọng hơn cả là định hướng giáo dục trẻ em về giao tiếp. Tránh trường hợp vô tình làm người khác khó chịu.

Một lần, trong đám ma bà dì vợ, có một khách đến viếng, chắc chỉ hơn tôi vài tuổi nhận xét: “Sao mày để vợ gầy thế, vậy là không được rồi.” Chưa nói tới cái nội dung thô thiển thì việc mày tao suồng sã lần đầu mới gặp đã đủ khiến tôi khó chịu. Giữa đám tang, tôi đành tặc lưỡi cho qua, bụng thầm nghĩ nếu cứ giữ kiểu giao tiếp ấy, thằng cha này sẽ có lúc ăn đòn ở một cuộc rượu nào đấy. Chưa hết, nhiều người tỏ ra ngạc nhiên, hỏi: “Ơ, vợ anh cao hơn anh à?” Tôi cười bảo: “Ừ, chẳng qua là do chân cô ấy dài, tôi biết làm sao được! Mà hình như luật hôn nhân và gia đình có cấm vợ cao hơn chồng đâu!”

Một kiểu “tra tấn” khác: các ông bà già, thường là ở nông thôn, hay hỏi: “Thế cháu làm được bao nhiêu tiền mỗi tháng?” Hàng xóm của một cô bạn li dị chồng hỏi con gái của cô ấy lúc cháu mới 3 tuổi: “Thế bố cháu có cô nào mới chưa?” Khiến đứa bé khó chịu, đòi về nhà không đi chơi nữa.

.
Tôi đến nhà anh, anh đến nhà tôi

Nhiều năm liền, ông bạn tôi giám đốc một công ty thương mại phải chơi trò “trốn Tết”: mùng Một thăm nội ngoại xong là cả nhà lên máy bay đi nghỉ vì: “Người khoẻ hơn nhiều. Ở Hà Nội, chúc tụng rượu bia suốt mấy ngày chắc chết. Cả năm đã phải uống đủ kiểu với đối tác, bạn hàng rồi”.

Hình thức trong giao tiếp đã chất lên vai người Việt gánh nặng vô hình. Tôi đã đến thăm anh thì mặc nhiên tôi cũng chờ đợi sự viếng thăm của anh. Khách đến là phải mâm bát, cụng ly. Vậy là lê la rồng rắn từ nhà này sang nhà khác, cuối ngày bải hoải, Tết đã thành một cực hình. Khổ nữa uống rượu là phải cạn chén, thế mới đẹp, mới hảo hán, mới chan chứa chân tình.

Chỉ khổ mấy bác sỹ trực mấy ngày tết. Cứ phải mổ não, nẹp chân, nẹp cẳng suốt. Nhà nào xấu số hơn thì cuống lên đi tìm quan tài. Nhu cầu mặt hàng này bỗng tăng vọt.

Mừng tuổi, biếu sếp: sự nhạy cảm khó xử

Thay vì mừng tuổi trẻ em mấy đồng tiền lẻ để lấy may thì phong tục ấy lại biến thành một điều nhạy cảm khó nói. Tập tục mừng tuổi trở thành cách để thể hiện bản thân. Mà trong xã hội, người giàu kẻ nghèo đứng cạnh nhau là thường. Người không có tiền bỗng trở nên ngại ngần khi mừng tuổi con cháu nhà giàu, mừng nhiều thì quá sức, mừng ít thì dường như không phải phép với bạn.

Tôi biết có vợ những đàn ông có chức sắc, cứ Tết đến là phải chầu trực trước ngõ sếp hay đối tác của chồng, chờ khi cổng nhà mở là lao vào đưa quà. Có trường hợp phải chầu trực cả buổi, bởi vị kia quyền cao chức trọng, có quá nhiều người đến biếu quà, chỉ được vợ sếp tiếp. Ra về còn lăn tăn không hiểu phu nhân của sếp có nói lại với sếp không? Nhiều người thế, bà ấy có nhớ mình là ai không? Liệu cái phong bì ấy có bị thất lạc không? Rồi không biết vụ tết này, chồng mình được biếu quà, có bù lại được cái chi phí này không?

Cỗ bàn ngập mặt, nỗi kinh sợ của phụ nữ

Đáng nhẽ ngày xuân, phụ nữ phải được thảnh thơi, váy áo đẹp đi chơi thì họ phải gập lưng xuống dọn nhà, làm cỗ với đủ các món truyền thống, đa phần những món ấy giống nhau đến chán ngấy: gà luộc, miến, măng, thịt đông, bánh chưng… Không làm thì bố mẹ chồng trách con dâu không chu đáo, mà không phải bố mẹ chồng thì ông bà tổ tiên trên bàn thờ có khi cũng không hài lòng.

Vậy, bản chất chung của tất cả những vấn nạn Tết và giải pháp là gì?

Đấy là hệ quả của một nền văn hoá mang nặng hình thức. Tết trở nên rườm rà, nặng nề và là nỗi kinh sợ của người lớn. Chính chúng ta tự làm khổ mình. Điều này cần phải thay đổi để con người Việt Nam được giải phóng khỏi những khổ ải mang tính thói quen văn hoá.

Đừng hỏi hay quan tâm tới những gì mang tính riêng tư của người khác. Đàn ông đừng ngại từ chối uống rượu. Đừng làm hảo hán dưới âm phủ mà nên làm người đàn ông điềm đạm vui thú dài dài với vợ con. Phụ nữ chỉ nấu những món chồng con thích. Mừng tuổi trẻ con bao nhiêu là hoàn toàn theo tình cảm và khả năng của mình.

Việc biếu sếp là khó nhất nhưng không phải không thay đổi được. Hãy đến với ai mình thực sự quý mến chứ không phải vì một sự tính toán hơn thiệt. Làm theo năng lực, đừng mong chờ ân huệ để lót đường cho công danh của mình.


Đoàn Bảo Châu

.

(Bài viết của tác giả Xuân Nguyên)

Tết Ông Táo - Truyền thuyết và nghi lễ

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Truyền thuyết về Táo Quân

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.



Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:

Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.

Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.

Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
- Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"... Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa. Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi...

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời). 

Tại sao ông Táo lại cưỡi cá chép về trời mà không phải các con vật khác? 

Phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp, nhà nào cũng tiễn ông Táo lên chầu trời. Trên bàn thờ có ba chiếc mũ mới bằng giấy: một màu vàng ở giữa, hai màu đen ở hai bên - tức hai ông, một bà - không có cỗ mặn, chỉ cúng hương hoa, sau có 3 con cá chép đang bơi trong chậu thau. 3 con cá chép có ý nghĩa làm "ngựa" để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông...

Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

Sớm ngày 23 Tết, các bà nội trợ của mỗi gia đình đã xách túi ra chợ chuẩn bị cho mâm cỗ cúng Táo quân. Một thứ không thể thiếu trong buổi đi chợ là cá chép.

Cá Chép Vàng hay còn gọi là (Cá Chép Tiên) là một loài động vật sống ở trên Thiên Đình, hồi trước sống trên trời, do phạm phải lỗi, nên bị Thượng Đế đày xuống trần gian để tu hành để chuộc lại tội lỗi của mình gây ra. Sau khi tu hành có chính quả, thì cá Chép sẽ hóa thân thành rồng và bay lên Trời. Còn Ông Táo là do Thượng Đế phái xuống trần tục để theo dõi loài người, xem ai là người Thiện, người Ác.

Sau đó Ông Táo bay về Thiên Đình để tâu lên Thượng Đế những việc ở dưới trần gian Nhưng mà muốn bay lên Trời, thì Ông Táo phải nhờ đến cá Chép mới lên được. 

Làm lễ cúng ông Công ông Táo tùy nếp từng nhà nhưng mâm cúng thường bao gồm: 

- "Phục trang" của ông Công ông Táo.
- Ba con cá chép vàng (loại nhỏ để cúng), nhớ để vào cái bình cao cao kẻo cá nhảy ra ngoài. Tuy nhiên có nhà không cần cá sống vì đã có cá chép giấy thường bán kèm trong túi "phục trang". Nhà nào gần ao hồ, sông suối thì nên mua cá sống, cúng xong thì đem thả (nếu nhà có trẻ con, cho các cháu đi thả cá và giảng giải cho các cháu biết phong tục thì rất hay). Thả cá xong, xin nhớ đừng vứt túi ni-lông xuống sông hồ kẻo coi như là không những không được phúc phóng sinh mà còn bị vướng vào nghiệp sát sinh.
- Thịt lợn luộc: 1 miếng, thịt vai gáy. Nên đi chợ sớm mua thì được thịt tươi ngon
- Một món canh: canh măng với xương.
- Một món xào có rau.
- Một đĩa muối.
- Hoa quả vàng mã.
*Lập riêng bàn thờ cúng tiễn Táo Quân ở khu vực nhà bếp.

VĂN KHẤN LỄ ÔNG TÁO CHẦU TRỜI
Nam Mô A Di Đà Phật!
Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân!
Tín chủ con là:.............
Ngụ tại:.......................
Nhằm ngày 23 tháng Chạp, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con kính mời:
Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám.
Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo.
Nguyễn Xuân Diện sưu tầm.

Ghi chú: 

Thưa chưa vị,
1. Nếu chư vị vẫn muốn đặt bàn thờ Ông Táo ở khu vực bàn thờ gia tiên thì cũng được, nhưng phải làm thành một mâm riêng, phân biệt mâm cúng gia tiên.

2. Sau ngày 23 tháng Chạp, thì các gia đình có thể tiến hành dọn bàn thờ (quét, đánh bóng các đồ thờ bằng đồng, lau rửa bát hương...), tỉa chân hương, hoặc thậm chí bỏ hết chân hương cũ. Nếu thay bát hương hoặc bàn thờ, xin đem đốt hoặc thả xuống sông lớn.

3. Ngày tiễn ông Táo, nhà nhà đều cúng bái, đốt hương, hóa mã...vậy xin bà con hết sức cảnh giác để tránh hỏa hoạn cho nhà mình và nhà hàng xóm. Vàng hương khi đốt xong, cần gom lại cho sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh cho môi trường.

4. Nếu nhà có trẻ con, nên giảng giải cho các cháu bé hiểu biết về phong tục cúng ông Táo.

* Bài này đáng lẽ để vào ngày 23 tháng Chạp mới đăng, nhưng có bác cứ đề nghị đăng trước để còn biết sự tích và mua sắm lễ vật, in bài văn khấn ra để đọc, nên cứ đăng vào hôm nay. 

.

(Bài viết của tác giả Tễu)

ĐH XII: Họp "say sưa"!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Buổi sáng ngày Khai mạc ĐH XII

Trịnh Anh Tuấn:  

Ban tổ chức Đại hội 12 lần này quả là thiếu sót khi không chuẩn bị chăn gối cho các Đại biểu về dự. Để các Đại biểu đáng kính ngủ gà ngủ gật thế này thương ơi là thương!


Buồn!
Để đến với Đại hội Đảng toàn quốc, được tiến hành tuần tự từ chi bộ, đến đảng uỷ xã, huyện, tỉnh; các cấp ủy Đảng ở cơ quan cũng vậy. Tại Đại hội của các cấp ủy Đảng đều thảo luận đóng góp ý kiến vào văn kiện của Đảng, bầu đại biểu ưu tú đi dự Đại hội Đảng cấp trên, cuối cùng là lựa chọn đại biểu thật sự tiêu biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc, đây cũng là sự cạnh tranh về tiêu chuẩn không kém phần ganh đua;...1510 đại biểu đại diện cho 4,5 triệu đảng viên về tham dự Đại hội.

Sứ mệnh của mỗi đại biểu là vô cùng quan trọng tại đại hội, đóng góp ý kiến cho đường lối của Đảng được đúng đắn; với lá phiếu của mình bầu chọn người có đức có tài, có tâm có tầm, sạch sẽ và trong sáng vào BCH Trung Ương và giữ vị trí lãnh đạo của Đảng,...

Vậy mà mới ngày đầu khai mạc Đại Hội, Tổng Bí thư đang trình bày các Văn kiện của Đảng để Đại hội có ý kiến và thông qua;...nhưng nhìn hình ảnh này được truyền hình trực tiếp để đông đảo nhân dân theo dõi, đại biểu: người ngủ, người bịt mũi - ngoáy mũi, người cười đùa, người nói chuyện, người ngơ ngác đang suy nghĩ chuyện khác,..

Để lại hình ảnh mà với tôi thật buồn và xấu hổ!



 
 

THƯ NGỎ Gửi lãnh đạo BỘ CÔNG AN VÀ thành phố đà nẵng

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Lê Anh Hùng

clip_image002

Tôi là Lê Anh Hùng, một công dân Việt Nam thường xuyên quan tâm đến tình hình đất nước nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, xin gửi tới tập thể lãnh đạo Bộ Công an và thành phố Đà Nẵng lời chào kính trọng.

Kính thưa quý vị! Theo dõi những gì đã và đang diễn ra tại Đà Nẵng thời gian qua, tôi trân trọng gửi tới quý vị bản kiến nghị với các nội dung sau.

Gần đây, nhiều cơ quan truyền thông thuộc hệ thống báo chí nhà nước đã lên tiếng báo động về tình trạng người Trung Quốc đã mua được hàng trăm lô đất ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, một sân bay quân sự thuộc quyền quản lý của Vùng 3 Hải quân. Theo số liệu sơ bộ, cơ quan chức năng đã thống kê được 256 lô biệt thự trước sân bay Nước Mặn hiện đã rơi vào tay người Trung Quốc dưới những hình thức khác nhau.

Các chuyên gia quân sự đều tỏ ý hết sức lo ngại trước thực tế nhiều khách sạn cao tầng đã, đang và sẽ được xây dựng ở khu vực gần sân bay Nước Mặn, bởi điều đó sẽ khiến sân bay bị vô hiệu hoá, tê liệt. Thiếu tướng Trần Minh Hùng - nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 5 - bày tỏ quan điểm: "Đất ở sát sân bay, không được bán cho bất cứ ai. Nếu rơi vào tay kẻ khác thì rất nguy hiểm. Tuyệt đối không để họ xây khách sạn, lấy vợ sinh con và thành lập phố Tàu ở tuyến đường ven biển Đà Nẵng".

Người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán. Việc họ mua hàng trăm lô đất tập trung tại một khu vực như thế này thì ngay cả những ai ngây thơ nhất cũng nhận ra là họ đang mưu toan lập một khu phố Tàu ở đây. Và chỉ cần chừng ấy thôi cũng đã quá đủ để cấu thành một hiểm hoạ mà chính quyền cần phải quyết liệt ra tay ngăn chặn và loại trừ.

Tuy nhiên, những gì mà báo chí nêu thời gian qua mới chỉ là phần nổi của tảng băng (dù chỉ ngần ấy thôi mà dư luận đã tỏ ra hết sức lo lắng, bức xúc). Phần chìm của nó, nguy hiểm hơn phần nổi kia bội phần, chính là khu nghỉ dưỡng Silver Shores International Resort, nằm phía bên kia đường Võ Nguyên Giáp, chạy dọc ngót 1 km ven bờ biển Sơn Trà - Điện Ngọc, với diện tích lên tới hàng chục ha.

Ngày 14/9/2015, trang mạng của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đăng bài điều tra “Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?” của tác giả Lê Anh Hùng. Bài viết sau đó đã được một số trang mạng uy tín trong nước, đặc biệt là trang Bauxite Việt NamViệt Nam Thời Báo, tiếp đăng. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra bằng chứng xác thực cho thấy chủ đầu tư thực sự của khu nghỉ dưỡng Silver Shores là một công ty Trung Quốc, chứ không phải là công ty Mỹ như trong giấy phép đầu tư dự án.

Báo Tuổi Trẻ 2015: 10 bài về văn hóa được đọc nhiều nhất

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

10 bài viết Văn hóa giải trí được đọc nhiều nhất 2015

Tuổi trẻ
31/12/2015 17:52 GMT+7


TTO - 10 bài viết Văn hòa - Giải trí được đọc nhiều nhất trong năm 2015: xung quanh bức ảnh chiến trường Việt Nam nổi tiếng gây tranh cãi; Bảo tàng Hà Nội giống Nhà trưng bày mỹ thuật Trung Hoa; Khắc thơ sai chính tả trên tượng đài mẹ VN anh hùng...


Bức ảnh nổi tiếng nhất của cựu phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính là chủ đề tranh cãi lan rộng trên thế giới về tính chân thực của thể loại ảnh báo chí.

Trên mạng lan truyền hai bức ảnh với những chi tiết khác nhau 
được các nhiếp ảnh gia, nhà nghiên cứu...so sánh


Mời bạn xem màn trình diễn pháo hoa nghệ thuật và ánh sáng laser 3D tại tòa tháp Bitexco (Q.1, TP.HCM) được quay bằng flycam. 
Khu vực tòa tháp Bitexco Financial (đường Hải Triều, Q.1) là điểm bắn pháo hoa nghệ thuật


Dư luận tại Quảng Nam xôn xao về việc phát hiện nhiều lỗi chính tả và sai sót khi trích dẫn thơ khắc trên đá tại công trình tượng đài mẹ VN anh hùng tỉnh Quảng Nam.

Một trong những bài thơ bị trích dẫn sai lỗi chính tả - Ảnh: Đ.Cường


Phần trình diễn của Phạm Hương, nhất là ở màn dạ hội, trong vòng bán kết cuộc thi Miss Universe tạo một cuộc tranh luận khen chê cả trong lẫn ngoài nước.

Phạm Hương trình diễn bước đi “hổ mang” trong đêm bán kết.


Chúng ta đã đánh mất nhiều thứ và giờ định đánh mất luôn môn sử trong nhà trường nữa hay sao? Vì đâu nên nỗi, ai trả lời cho người dân Việt câu hỏi đắng cay này? (Nhà văn Dạ Ngân).

Tượng đài Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn tại đảo Song Tử Tây - Trường Sa