Một bài Quốc Ca giá bao nhiêu?

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Một bài quốc ca giá bao nhiêu?
Tuấn Khanh
29-08-2015
 

Câu chuyện đề nghị thu tiền tác quyền của bài Tiến quốc ca ở Việt Nam hiện nay, gợi lên không ít điều phải bàn, liên quan đến danh dự một quốc gia, cũng như của chính tác giả bài hát đó. Tuy chuyện ông Phó Đức Phương, giám đốc Trung bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), nêu ra có vẻ rất lạ thường, như lại là cơ hội để công chúng được một dịp nhìn thấy mọi góc cạnh của ứng xử, của hiện trạng về bài quốc ca tại Việt Nam.

Có lẽ, trong lịch sử Việt Nam cho đến nay, chưa có bài hát nào được sử dụng nhiều bằng bài Tiến Quân Ca, bởi tính khách quan, đó là bài hát được Quốc hội của miền Bắc Việt Nam, năm 1946, lúc đó còn mang tên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, chọn là bài hát chủ đề giới thiệu một chính thể - một national anthem, mà cho tới nay chưa có sự thay đổi chính thức nào. Mặc dù sau khi Việt Nam không còn chiến tranh và chính thức đổi tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bài hát này vẫn được vang lên với tư cách là một bài quốc ca.

Nếu tính thành tiền tác quyền, bằng giá của một ca khúc bình thường mà VCPMC vẫn thu hiện nay, tiền tác quyền của của riêng bài hát này (kể cả truy thu) của nhạc sĩ Văn Cao có thể lên đến hàng trăm tỉ đồng Việt Nam. Và nếu được như vậy, nhạc sĩ Văn Cao có thể đi vào lịch sử âm nhạc thế giới qua sự kiện 20 năm sau khi mất, vẫn làm ra những số tiền khổng lồ. Hãy thử tưởng tượng, nếu còn sống đến lúc này, có lẽ nhạc sĩ Văn Cao sẽ là một trong những nghệ sĩ - đại gia hàng đầu của Việt Nam.

Tiếc thay lúc sinh thời, đời của ông không được một phần nho nhỏ nào như vậy. Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) ra đi trong sự thanh bạch và nghèo khó. Tháng 2.1993, trong chuyến đi của tổng thống Pháp François Mitterrand đến Hà Nội, Việt Nam, những người cùng thời kể lại rằng ngôi nhà của nhạc sĩ Văn Cao bất ngờ được chọn là một trong những điểm ghé qua, bên cạnh danh sách các điểm đến là chiến trường Điện Biên Phủ xưa, Văn Miếu… Khi ấy, chỉ được biết trước một vài tiếng đồng hồ, nhà nhạc sĩ Văn Cao đã được vội vã tổ chức lại cho tươm tất hơn, cũng như phía chính phủ Việt Nam cũng bất ngờ cho biết sẽ lập khoản trợ cấp vài trăm đồng trong một thời gian, vì nhận ra ông đang có cuộc sống quá chật vật.

Nhưng ngay lúc sinh thời, khi tác phẩm của mình được chọn làm quốc ca, nhạc sĩ Văn Cao lúc đó ắt hẳn cũng mang nhiều tâm trạng khó tả, không thể nào lên tiếng bất cứ điều gì được. Khó mà biết được ông lặng lẽ hay ông im lặng.

Năm 1956, khi tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm của các trí thức hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ, nhạc sĩ Văn Cao đã phải đối đầu với nhiều đợt phủ nhận tác phẩm của ông. Năm 1958, chính phủ miền Bắc Việt Nam đã dự định dùng bài Bài ca cách mạng tiến quân của Đỗ Nhuận để thay cho Tiến Quân Ca, thế nhưng không hiểu sao, bài hát Tiến Quân Ca cứ in vào tâm trí người dân, không đổi được. Dù vẫn phải sử dụng, nhưng ít ai để ý là nhiều năm liền sau đó, đến tận năm 1980, chính sách dùng quốc thiều để thay cho các buổi hát quốc ca đã được áp dụng khắp nơi.

Địt mẹ thằng Phạm Vũ Luận

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

clip_image002

Học sinh, sinh viên không phải là Chuột Bạch!

Chia sẻ nỗi bức xúc của cộng đồng mạng mấy ngày qua về những chính sách gần đây của Bộ Giáo dục và Đào tạo, sáng 24/8/2015, một Facebooker có tên “Hoàng Thành” đã đăng lên Facebook một bức ảnh của mình, trong đó anh cầm trên tay poster hình con chuột bạch đang bị tiêm thuốc, với dòng chữ: “Học sinh, sinh viên không phải là CHUỘT BẠCH”. Hình ảnh đó thu hút được sự quan tâm của người dùng Facebook. Phóng viên (PV) đã nhanh chóng liên lạc với Hoàng Thành để phỏng vấn.

PV: Chào bạn, bạn có thể cho biết vì sao bạn có ý tưởng chụp tấm hình đó?

Hoàng Thành: Gần đây tôi thấy trên mạng nhiều người bức xúc về kỳ thi THPT Quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức (gộp kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi Đại học làm một - PV), nhìn thấy cảnh nhiều bạn trẻ và gia đình dở khóc dở cười do đây là lần đầu thử nghiệm cách thi này, họ loay hoay vì lạ lẫm. Tôi liền liên tưởng đến những gì bản thân mình đã trải qua thời còn đi học, tôi cũng là “chuột bạch” của nhiều chính sách giáo dục tương tự. Nào là thay sách giáo khoa, nào là thí điểm chương trình dạy và học mới… đúng là dở khóc dở cười thật. Vì thế mà tôi nảy ra ý định chụp bức ảnh này như một cách để biểu đạt ý kiến.

PV: Bạn thực hiện bức ảnh đó như thế nào?

Hoàng Thành: Chiều hôm qua, Chủ nhật ngày 23/8, tôi tự tải hình ảnh chú chuột bạch về máy, sửa sang, thêm chữ và in ra. Sau đó tôi đến trước cổng trụ sở Bộ Giáo dục và Đào tạo tại số 49, đường Đại Cồ Việt, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và nhờ một người qua đường chụp giúp. Rất may là bức hình cũng đẹp (cười).

PV: Được cộng đồng mạng ủng hộ, bạn cảm thấy thế nào?

Hoàng Thành: Tôi rất vui vì được nhiều người ủng hộ. Điều đó chứng tỏ có rất nhiều người có nỗi bức xúc giống tôi. Đã có nhiều người chia sẻ tấm hình, tôi mong rằng thông điệp trên tấm hình đó có thể đến được với ông Phạm Vũ Luận - Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo - và những nhà quản lý giáo dục khác.

PV: Có những ý kiến cho rằng chính sách về kỳ thi THPT Quốc gia lần này không sai. Bạn nghĩ sao về những ý kiến đó?

Hoàng Thành: Dường như các chuyên gia tính toán dựa trên các con số và đưa ra quyết định một cách máy móc, mà họ quên mất rằng đối tượng cần được hưởng lợi nhiều nhất từ một chính sách giáo dục là các em học sinh. Nên dù chính sách đó là gì thì cũng cần tìm hiểu ý kiến của các em học sinh, tiến hành nghiên cứu nhu cầu xã hội và cho chạy thử nghiệm trước khi tiến hành ra chính sách.

Tiểu luận về nhậu

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Cái chõng tre (hoặc cái bàn mộc cũ kĩ) giữa lòng Hà nội, trên đó bày mấy lọ kẹo lạc, kẹo vừng, chai rượi trắng, chiếc điếu cày, ống đóm, ngọn đèn dầu... và một cái ủ tích lúc nào cũng sẵn sàng rót ra những cốc nước trà đặc quánh, nghi ngút hương thơm. Tất nhiên không thể thiếu chiếc ghế băng cũ kĩ, đã lên nước nâu bóng nằm hờ hững phía bên ngoài, dăm chiếc ghế nhựa oắt con, cơ động mà kích thước và sức chịu lực được tính toán vừa đủ với kích cỡ và trọng lượng của giống người mũi tẹt, da vàng... Đấy là vật.

Còn người thì bên trong cái chõng (hoặc cái bàn) cổ kính ấy, thế nào cũng có hoặc một ông già, hoặc một bà lão răn reo phúc hậu, sẵn sàng lặng thinh trước thời cuộc mà cũng sẵn sàng góp vào đôi ba câu chuyện... Khỏi nói thì ai cũng biết đó là một trong vô vàn quán nước trà ở Thủ đô. Và gần đấy, thế nào cũng có một hàng phở, hàng bánh cuốn hay bún ốc, bún riêu gì đó, đại loại là một hàng quà sáng...

Sở dĩ có sự “cộng sinh” muôn đời ấy giữa “ăn” và “uống” bởi quán ăn ở Hà thành thường chỉ phục vụ ăn với lau mồm qua loa bằng những mảnh giấy đủ màu trắng đục, xanh, vàng, tím... (không thể trắng tinh bởi chúng được tái chế bằng giấy loại), cắt vuông vắn mỗi chiều năm xăng ti mét. Còn súc miệng xỉa răng ư? Xin mời bước đi chỗ khác. Người Thủ đô vốn thong thả, đường hoàng, súng bắn đến đít cũng không việc gì phải vội. Còn gì lý tưởng hơn là sáng nào điểm tâm xong cũng lê đến gọi một cốc trà nghi ngút ấy, ngắm phố phường mà thả ra mấy câu chuyện gẫu, lạ quen gì thì cũng sẵn sàng góp mỗi người vài câu, từ chuyện thế sự trên trời đến chuyện bóng đá, chuyện yêu đương, ngoại tình... Nhất là chuyện ăn cắp, ăn trộm của thiên hạ thì có mà “bàn” đến cả trăm năm cũng không hết. Thế rồi hờ hững ngó đồng hồ, thế rồi uể oải đứng lên... thế rồi lừ lừ trôi đến cơ quan có khi lại bắt đầu một câu chuyện gẫu khác...

Cách Thủ đô một ngàn rưởi cây số về phía Nam là Sài gòn thì bói không ra một quán nước trà như thế. Thay vào đó là nhan nhản quán cà phê. Những nơi này với ưu thế đèn mờ, tranh tối tranh sáng lại có âm nhạc xập xình dậm dựt, được sinh ra chủ yếu để phục vụ các cặp tình nhân, hoặc là nơi thả hồn của các thi sĩ giữa lúc nghĩ hai bài thơ không đầu không cuối, không để làm gì, hoặc có khi là nơi định thần, âm u tưởng tượng của những nhà văn đang bị khủng hoảng (thừa) các đề tài ca ngợi, yêu đương, hay thất tình tay ba tay bốn... đến nỗi không thèm viết thì thôi, cứ động viết ra là y như chữ nào, chữ nấy cứ... rối rít cả lên. Ngoài những công dụng cực kì nhân sinh, tràn trề lãng mạn như thế, các quán cà phê kiểu ấy còn là một chốn lý tưởng để cho những hạng con buôn hẹn hò, chụm đầu bàn bạc những áp phe không thể nào minh bạch...

Sài gòn không cần sự “cộng sinh” giữa “ăn” và “uống” như Thủ đô ngàn năm văn vật, bởi các quán ăn sáng phục vụ luôn việc súc miệng, xỉa răng với cả lau mồm. Cũng vẫn cuộn giấy (...) xinh xắn, mềm mại và tròn xoe mua ở chợ hay siêu thị ấy thôi, nhưng dùng để chùi mồm thì nó được đựng trong những chiếc hộp nhựa dựng đứng, khách cứ việc thò ngón tay rút từ giữa lõi ra cho có vẻ ngược lại với quy trình diễn ra trong nhà vệ sinh. Đừng có dại mà liên tưởng, kẻo lại bảo là ghê mồm(!). Người Sài gòn vốn có tác phong công nghiệp, biết thời gian là vàng ngọc nên phải tranh thủ thời gian. Khách ăn xong làm thủ tục vệ sinh mồm mép cho nhanh rồi hối hả đến sở làm. Rất hiếm một câu chuyện gẫu diễn ra trong cái chốn sì soạp húp, chan, đỏ mặt tía tai, cắm đầu cắm cổ ấy... Nhu cầu tán gẫu nếu có thì dành đến chiều tối, lúc hết giờ làm việc. Bấy giờ là thời điểm của nhậu! Phố phường ê hề quán nhậu, cả một thế gian nhậu. Nhậu hoành tráng, nhậu mênh mông, nhậu “mát trời ông Địa”.

Nhưng đã nói đến “nhậu” thì chẳng cứ Sài gòn. Hà thành và... cả nước bây giờ, đâu đâu cũng thế. Từ đây trở xuống xin chỉ bàn về nhậu mà thôi. Phải gọi đây là cả một nền văn hoá nhậu mới xứng. Một nền văn hoá phát triển cao tới mức làm con người ta lúc chưa ra quán thì nhớ nhau như những cặp tình nhân, ra đến quán rồi thì kiên cường bên nhau như một đám biểu tình ngồi. Thật là ồn ã, náo nhiệt, tưng bừng bằng mấy chục cái chợ nhà quê...

Nghĩ kể cũng lạ. ở những chốn “fẹs-ti-van” nhậu ấy, thức nhắm nào có ra gì. Nhưng các biển hiệu thì bao giờ cũng được vẽ to tổ bố, nom vừa sinh động, vừa hấp dẫn như thật. Từ đặc sản dái dê, vú dê, rồi “phụ tùng” (có nơi gọi là súng đạn) bò đực, (không thấy “cái ấy” của bò cái) đến mu ba ba, trôn ốc nhồi... cùng với đủ các kiểu danh xưng đại ngôn, láo toét. Nào là nướng cả phố (phố nướng), nào là nướng cả làng (làng nướng), có khi nướng ráo cả... tổ tông (tổ nướng)... Thực đơn trình bày đến mấy trang ép ni lông lòe loẹt... Song cái sự ngon lành thì hầu hết đều... dở hơi như nhau. Thực khách dễ tính đến không ngờ, bởi nơi đây hấp dẫn chủ yếu là cái không khí chứ có phải vì món ăn đâu. Người ta sở dĩ kéo đến không phải vì nhu cầu thưởng thức mà vì nhu cầu xả. Có bao nhiêu thứ cần xả. Từ xả sì-trét (căng thẳng), xả xui (vận rủi), xả buồn... đến xả bớt một phần cái kiếp người vốn (hình như) chưa bao giờ vô nghĩa lý như cái thời buổi văn minh nhốn nháo này...

Cần phải nói rằng nền “văn hoá nhậu” đang kể ra đây là một thứ nhậu bình dân, hết sức giản dị, dân dã. Nó diễn ra tưng bừng từ trong nhà, ra ngoài sân, từ trong hẻm, ra vỉa hè... Nó không cầu kì từ ăn mặc đến lễ nghi, từ ghế ngồi đến ánh sáng, từ đồ uống đến thức ăn... và nhất là không đòi hỏi mỗi người phải có thật nhiều tiền. Mặc dù cũng không thiếu những chốn nhậu cao cấp, thơm tho diễn ra cùng thời điểm, trong những nhà hàng sang trọng, kín mít như bưng... Nhưng phân biệt hai “thế giới” nhậu song song tồn tại này cũng đơn giản thôi, chỉ bằng cách tên gọi là đủ. Ví dụ chốn người sang được gọi là “tiệc tùng”, thì chốn bình dân phải gọi là “nhậu nhẹt”. Song tiệc tùng, dù có lớn đến đâu cũng chỉ đáng coi là “tiểu nhậu”, cùng lắm là “trung nhậu”. Chỉ có nhậu nhẹt kia, mới thực là đã đạt tới quy mô của “đại nhậu” mà thôi.

Dân “nhậu nhẹt” phần lớn bình dân, tuyệt đại đa số bình dân. Tuy đâu đó cũng có lẫn một vài kẻ sang, nhưng chẳng qua chỉ là... lốm đốm. Bình dân đấy, nhưng cơ mà (em ơi), lại sở hữu tới sáu đức (lục đức) “dễ thương” của người quân tử. Xin được kể ra như sau:

Thứ nhất, dẫu chẳng ngon, chẳng đắt tiền thì cũng cứ là những “miếng giữa đàng”, dù có tối trời thì cũng coi như thanh thiên bạch nhật, bởi chẳng bao giờ phải che mặt với ai. Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức quang minh chính đại.

Thứ hai, người quân tử vốn không ưa cái sự sát sinh, nên dân nhậu rất ít khi chui đầu vào bếp. Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức “nhân”.

Thứ ba, một kẻ có gì vui hay buồn thì cả đám chỉ chờ cơ hội đó để kéo nhau đi, buồn cũng uống mà vui cũng uống, kiểu như: “một con ngựa đau, cả tàu... no cỏ”. Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức “nghĩa”.

Thứ tư, người quân tử ngồi không kén ghế, ăn chẳng cần no, mặc không cần đẹp... dân nhậu vốn đã coi những chuyện ấy nhẹ tựa lông bò. Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức “lễ”.

Thứ năm, luôn luôn biết chọn bạn hợp mà rủ rê, chọn quán quen mà ngồi lỳ, chọn mồi lạ mà đưa đẩy... Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức “trí”.

Thứ sáu, chỉ nhậu vào những giờ nhất định trong ngày, đến giờ ấy mà không ra quán thì toàn thân ngứa ngáy, thần trí nhẹ tênh, nhất là đã hẹn rồi thì đố dám sai, lần sau dễ bị “phạt” như chơi. Ấy gọi là nhậu nhẹt mà có đức “tín”.

Vừa “quang minh chính đại”, vừa có đủ “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, đạo lý “nhậu” xem ra cũng khối điều ghê. Thế mới có câu: “phi nhậu nhẹt bất thành quân tử” (không nhậu nhẹt không thể thành quân tử), lại có câu: “phi nhậu nhẹt bất trượng phu” (không nhậu nhẹt không phải đấng trượng phu), lại còn có thơ:

Bất thị quan trường, vi đạo tặc.
Bất tri tửu đạo, bất hiền nhân.

(Có thể không làm quan mà vẫn là kẻ cướp. Nhưng nếu không hiểu đạo lý của rượu, thì không phải bậc hiền nhân.)

Thậm chí còn sáng tác cả ca dao, tục, thanh lẫn lộn nói về cái “đạo lý” ấy:

Gặp nhau có chén rượu tăm,
Gọi là một chút hỏi thăm lòng người.

Rồi:

Rượu hay phải biết chửi thề,
Biết đi nửa buổi, biết về... nửa đêm.

Hay:

Đã nhậu là cậu ông Giời,
Nên người quân tử chẳng mời cũng... dzô.

...

Tóm lại là nếu muốn tìm quân tử, ai ơi chẳng cần phải lặn lội tới những chốn cao sang làm gì cho phí công vô ích, thậm chí tới đó mà vô phúc, bị lầm lẫn thì dễ mắc họa như chơi. Xin mời cứ đợi chiều chiều, chỉ việc ra bất kì một nơi “đại nhậu” là khắc gặp đầy.

(Bài của bác Phạm Lưu Vũ, thợ văn kiêm thợ thầu khoán. Xin trân trọng giới thiệu.)
(Bài viết của tác giả Lyhong Tuan)

HOA "LẠ" VÀ GIỌNG LƯỠI CỦA QUAN CHỨC HÀ NỘI

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

“Hoa lạ” trồng bên hồ Hoàn Kiếm 
có nguồn gốc từ Trung Quốc?

Dân trí
Thứ Năm, 13/08/2015 - 15:17

Trước thông tin cho rằng một số giống hoa trang trí bên hồ Hoàn Kiếm hiện nay có xuất xứ từ Trung Quốc, đại diện Ban Quản lý Hồ Gươm và công ty cung cấp hoa khẳng định, tất cả hoa trông bên hồ đều có nguồn gốc từ Đà Lạt (Lâm Đồng) và Hà Nội.
>> Trồng hàng nghìn chậu hoa bên hồ Hoàn Kiếm mừng Ngày Quốc khánh

Những ngày gần đây, Hà Nội gấp rút trang trí lại cảnh quan xung quanh hồ Hoàn Kiếm cũng như một số tuyến phố trung tâm, hướng đến kỷ niệm 70 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2015) và ngày Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam 2/9. Những thảm hoa đủ loại sặc sỡ sắc màu đươc các công nhân tỉa tót, bài trí theo thiết kế bên hồ. Đến nay, mọi công việc “trang điểm” cho Hồ Gươm gần như đã hoàn tất.

Bên ngoài các thùng giấy đựng hoa có nhiều dòng chữ Trung Quốc khiến người dân
cho rằng các giống hoa trồng bên hồ được nhập về từ Trung Quốc.

Tuy nhiên, qua quan sát có thể thấy các thùng giấy đựng hoa đều in chữ Trung Quốc. Nhiều người dân hoài nghi loài hoa được trang trí bên Hồ Gươm được nhập về từ Trung Quốc? Người dân băn khoăn: Nước ta có biết bao làng hoa, vựa hoa, thành phố hoa nổi tiếng, cớ sao phải nhập hoa Trung Quốc về trồng bên Hồ Gươm?


Trả lời cho băn khoăn này, ông Nguyễn Minh Tuấn, Trưởng Ban quản lý Hồ Gươm cho biết, những loại hoa trên đều có nguồn gốc trong nước. “Chúng tôi đã kiểm tra kỹ giống hoa mà người dân phản ánh, đó là hoa hồng môn có nguồn gốc trong nước, cụ thể là Đà Lạt chứ không phải hoa nhập khẩu”, ông Nguyễn Minh Tuấn khẳng định.

Đơn vị cung cấp và trực tiếp trồng một phần hoa bên Hồ Gươm cũng khẳng định tất cả các loại hoa ở đây có nguồn gốc ở trong nước. Với giống hoa hồng môn có màu đỏ rực, được công nhân trồng rất nhiều bên hồ những ngày qua, đại diện đơn vị cung cấp hoa cho biết, loại hoa này được chuyển từ Đà Lạt ra Hà Nội; có giấy tờ, hóa đơn cụ thể để chứng minh cho việc này.

Các bên đều khẳng định đây là hoa hồng môn có nguồn gốc ở Đà Lạt (Lâm Đồng)

Về băn khoăn tại sao hoa có nguồn gốc ở Đà Lạt lại được đóng gói trong thùng giấy in chữ Trung Quốc, đại diện đơn vị cung cấp hoa cho biết, đơn vị này không chuyên trong việc đóng gói nên thường mua các loại thùng có sẵn (phổ biến nhất là thùng của một hãng thuốc lá) về đựng hoa để vận chuyển đi các nơi.

Phố cổ Hà Nội bóng lồn lộn nhất thế giới

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Trước sự quan tâm của bạn đọc về việc lát đá mặt đường một số tuyến phố cổ, chúng tôi đã trao đổi với lãnh đạo quận Hoàn Kiếm.

Việc lát đá 11 tuyến phố trong khu phố cổ Hà Nội đã đi đến đâu rồi, thưa ông?
— Hiện nay chúng tôi đang trong quá trình lập dự án, thiết kế, xin tiền để lát loại đá bóng nhất thế giới cho 11 tuyến phố cổ Hà Nội.

Tiền để lát đá phố cổ được lấy từ đâu?
— Giờ quận Hoàn Kiếm sẽ xin được lát đá bằng tiền ngân sách quận.

Phố cổ lát loại đá bóng nhất thế giới thực sự thuận tiện cho việc đi lại hay chỉ có giá trị biểu tượng?
— Khu vực phố cổ lát loại đá bóng nhất thế giới sau này sẽ là đầu tàu kinh tế của Hà Nội và Việt Nam. Trên thế giới cũng vậy, khu vực nào phố có lát đá bóng lộn thì khu đó sẽ thành đầu tàu kinh tế, trung tâm thương mại rất lớn của địa phương đó. Sau khi phố cổ được lát loại đá bóng nhất thế giới, nơi đây sẽ là điểm đến của khách du lịch, đưa kinh tế phát triển mạnh mẽ. Ngoài ra, phố lát đá bóng lộn cũng có vai trò trong việc đi lại và có cả ý nghĩa với an ninh quốc phòng nữa.

Từ khi có chủ trương đến khi lát loại đá bóng nhất thế giới cho phố cổ sẽ phải mất bao nhiêu thời gian?
— Trung bình từ sau khi có sự đồng ý của Chính phủ đến khi lát được đá phải mất năm năm. Riêng khâu chọn đá cũng phải mất 2-3 năm. Khi chọn được đá rồi, sẽ mang ra lấy ý kiến tham khảo của những chuyên gia và người dân. Đơn vị được lựa chọn để chọn đá cũng phải đến từ nước ngoài bởi ở Việt Nam chưa có tiêu chuẩn kỹ thuật cho loại đá bóng nhất thế giới như thế này.

Chủ trương lát loại đá bóng nhất thế giới là của quận Hoàn Kiếm?
— Ý tưởng của quận Hoàn Kiếm là như vậy, tuy nhiên ý tưởng tuyệt vời đó có thành hiện thực được không còn phụ thuộc nhiều vấn đề, ví dụ như nền đất ở nơi lát đá có đáp ứng được loại đá bóng nhất thế giới như vậy không. Phố lát đá bóng nhất thế giới giống như biểu tượng để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Khi chúng ta làm marketing cho một đất nước thì mình phải có một cái gì đó để mang ra giới thiệu chứ. Ý tưởng của chúng tôi lát loại đá bóng nhất thế giới là lát phố bóng nhất thế giới để làm biểu tượng của Việt Nam, đồng thời thu hút khách du lịch. Phố cổ Hà Nội có bóng lồn lộn hơn phố của người ta một chút cũng dễ cho chúng ta khi làm marketing cho đất nước. Ví dụ vịnh Hạ Long, hang Sơn Đoòng, bánh tét to và dài chính là những cái mình đưa ra để giới thiệu với bạn bè quốc tế trong thời kỳ hội nhập chứ không thể cứ mang mãi chiến tranh ra để quảng bá hình ảnh đất nước được.

Ông nghĩ gì về việc dư luận băn khoăn khi đất nước còn nghèo mà lát đường bằng loại đá bóng nhất thế giới, bóng hơn cả đường ở Tokyo của Nhật Bản — một quốc gia trong nhóm giàu có nhất thế giới?
— Mọi so sánh đều khập khiễng. Tôi cho rằng chúng ta phải nhìn nhận với con mắt tích cực về việc lát đá bóng cho phố cổ. Ý tưởng lát loại đá bóng nhất thế giới cho phố cổ Hà Nội đã có từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, nhưng vì không có nguồn tiền nên không lát được, chứ không phải bây giờ mới có. Cũng may là thời đó chưa lát được, chứ nếu lát lúc đó thì loại đá bóng nhất thế giới khi ấy đến bây giờ cũng chỉ là bóng thứ hai, thứ ba,.. thôi.

Phải chăng những thủ đô khác trên thế giới cũng đều phải có phố lát đá bóng lộn?
— Không phải thủ đô nào cũng cần phố lát đá bóng, tùy điều kiện của mỗi thủ đô. Tuy nhiên phố cổ Hà Nội có được lát loại đá bóng nhất thế giới thì cũng hướng tới phục vụ mục đích kinh tế là chính, hơn là phục vụ mục đích đi lại cho người và phương tiện, vì đi lại ngày nay thì đường nhựa là tốt lắm rồi. Ý nghĩa của phố lát đá bóng nhất thế giới sẽ là giá trị biểu tượng, phát triển kinh tế đất nước, thu hút du lịch, đi lại là phụ dù khi lát đá bóng lộn xong nó vẫn sẽ được dùng để đi lại như bình thường.

Mười mấy giây nhạc tàu - Một sơ xuất có hệ thống

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Cuối năm 2006, có một ca sĩ từ Hà Nội vào Sài Gòn trong một tâm trạng trầm uất nặng nề, do vướng vào một scandal tình ái ngoài ý muốn, chuyện rất ầm ĩ trên internet. Năm đó, muốn giúp cô quay lại với sân khấu, tôi quyết đưa cô vào danh sách biểu diễn trong một chương trình văn nghệ ngoài trời, diễn ra tại trung tâm thành phố. Dĩ nhiên, đó là một cuộc tranh đấu vật vã muôn phần để vượt qua các hàng rào kiểm duyệt ý thức lẫn thói đạo đức giả của các người có chức phận lúc đó.

Ấy vậy mà, khi đến tiết mục của cô, khi chỉ mới hơn 10 giây nhạc dạo của bài hát mà cô vẫn hay trình diễn, một viên chức mặt còn măng sữa của Thành Đoàn TNCS đã lao đến chỗ tôi và hét lên “ai cho loại người này lên sân khấu?”. Thậm chí, dù cô ca sĩ đó đang hát được gần nửa bài, viên chức đó vẫn loay hoay mưu tìm cách đuổi cô ca sĩ ấy xuống.

Nói đến vậy, để biết, ở Việt Nam, kiểm duyệt là một bàn tay sắt với mọi loại chương trình, đặc biệt chương trình gọi là trực tiếp với công chúng. Bất chấp nội dung là gì, ý thức chính trị và kiểm duyệt len lỏi vào mọi nơi: từng chữ của một bài hát, từng chiếc áo trong phòng hoá trang của nữ diễn viên, thậm chí động tác trên sân khấu cũng được ràng buộc bởi những quy tắc nào đó, để phù hợp với sân khấu xã hội chủ nghĩa. Thậm chí để bảo đảm tính an ninh chính trị, hầu hết các chương trình gọi là trực tiếp, vẫn phát trễ sau 30 phút của giờ diễn thật.

Nên, khi NSND Lê Hùng nói rằng đoạn nhạc quốc ca thứ hai của người Trung Quốc chỉ có mười mấy giây đó, là một việc sơ xuất và có vẻ như không đáng, là điều khó tin được. Mười mấy giây của bài hát ngợi ca Trung Quốc trong chương trình mang tên Khát vọng đoàn tụ - một chương trình diễn ra vào ngày 27/7 vừa rồi để tưởng nhớ đến những người lính Việt Nam đã chết, mà gần nhất trong lịch sử là chết oai hùng, chết tức tưởi... để bảo vệ đất nước trước quân xâm lược Trung Quốc. Sơ xuất là điều đáng để mổ xẻ.

20 năm trước, khi công ước Berne về bản quyền chưa đến Việt Nam thì mọi chuyện thờ ơ ấy, tạm gọi là có thể, nhưng giờ đây, hầu như chương trình nào, tiết mục nào khi có nhạc vang lên, đạo diễn và những người kiểm soát sân khấu vẫn đặt câu hỏi thường nhật là “nhạc ấy ở đâu, dùng được không?”.

Trong mọi câu trả lời trên mặt báo, trong các lời giải thích tạm bợ và vội vã, đều không thấy việc chỉ đích danh ai đã đưa đoạn nhạc kỳ bí ấy vào chương trình ngày 27/7. Theo nguyên tắc tổ chức thì luôn luôn, đoạn nhạc đó phải được duyệt, chấp nhận và được chính thức đưa vào danh sách phát. Có hẳn người phụ trách riêng để làm việc này theo kịch bản. Nếu người phụ trách không thay đổi, thì chỉ có một điều là đoạn nhạc ngợi ca Trung Quốc đã được “nhất trí cao độ” để đưa vào sử dụng.

Trên các trang mạng, tôi thấy nhiều người nói rất nặng ông Lê Hùng là giặc tàu, tên bán nước... tôi không nghĩ ông Hùng dám cam tâm tự mình thực hiện phát nhạc nền Trung Quốc cho chủ tịch Trương Tấn Sang như trong một âm mưu. Gương mặt của ông trên các trang báo khi trả lời phỏng vấn, có một đôi mắt thể hiện một người luôn hãnh tiến nhưng giờ thì hốt hoảng và sợ sệt trong một tai nạn. Nên nhớ vị trí NSND trong lòng các nghệ sĩ miền Bắc là vô cùng lớn lao. Họ luôn tự hào khi viết lá đơn xin danh hiệu đó cùng với tâm trạng thề sẽ cúc cung tận tụy, như một nghệ sĩ cung đình chân thành.

Nếu có trách, hãy trách chuyện mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam nhiều năm bị cưỡng bức tắm và uống trong tình hữu nghị 16 chữ vàng với Trung Quốc. Những lần tránh né gọi thẳng tên kẻ gây ra các vụ xung đột, cướp bóc và giết ngư dân Việt trên biển, thay thế bằng “tàu lạ, kẻ lạ”, khiến khoảng cách của ý thức phân định ta - giặc bị mù mờ. Thậm chí ngay cả sách lịch sử giáo khoa Việt Nam cũng ngại việc gọi tên Trung Quốc là giặc xâm lược, thì âm nhạc ca ngợi ta hay nhạc ca ngợi “nước lạ” cũng mù mờ vậy thôi. Thời gian bào mòn ý thức và sự tỉnh táo về dân tộc và ngoại bang mới đáng sợ làm sao!

Nếu có trách, hãy nhớ và trách ai đó - bí ẩn và khốn nạn - tìm cách xoá đi sự thật. Những kẻ rắp tâm kéo kẻ thù gần với dân tộc hơn bằng thực phẩm, bằng trò vui và tập quên những nỗi đau lịch sử. Nhà báo Huy Đức từng nhắc về chuyện biên giới tháng 2/1979, sau chiến tranh, Bắc Kinh đột nhiên thành bạn răng môi, những ghi nhớ tội ác xâm lược của Trung Quốc đột nhiên mất dần. Tấm bia ghi nhớ ở xã Hưng Đạo, huyện Hoà An về quân xâm lược Trung Quốc dùng búa đập chết 43 phụ nữ và trẻ em như một trò chơi bị giấu đi vào bụi rậm. Mới đây nhà báo Lê Đức Dục cũng cho biết bia tưởng niệm ở đồn biên phòng Phú Mỹ, Kiên Giang cũng bị giấu đi mất dạng. Bia nói về 38 người lính chết anh dũng ở đây để chống lại quân Khmer Đỏ, cánh tay mặt chia lửa của Trung Quốc. Hôm nay, nếu thường dân và NSND Việt Nam có lầm lạc về kẻ thù do cứ bị giấu nhẹm dần, thì đó cũng là lẽ đương nhiên.

Nam Phong tạp chí số 143 (1929) có ghi lại chuyện Mạc Cửu thần phục nhà Nam năm 1714, nhưng vẫn mang theo tâm khí truyền đời của giặc Phương Bắc, nên vẫn tìm cách trấn yểm linh khí đất Nam, nhằm có cơ hội cướp cả triều đình. Trong sách nghiên cứu Thất Sơn Huyền Bí của Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu có ghi lại chuyện nhiều đời họ Mạc cũng như các thầy địa lý đi từ Tàu sang, chôn cọc có trấn bùa ở Tịnh Biên, Bảy Núi, để mong huỷ diệt anh linh Việt. Từ năm 1849 cho đến 1856, đức Phật Thầy Tây An từng gửi thư cho Đức Cố Quản Thành để nhắc phòng ngừa chuyện này. Hiện một vài di tích về âm mưu này, trước năm 1975, vẫn còn được để ở dinh thờ tại Láng Linh (Châu Đốc), gồm cọc bùa và thẻ, bùa chú ghi tiếng Tàu, chôn giấu ở núi và sông vùng Bảy Núi, được tìm thấy.

Thế giới hiện đại không thể có tình đại đồng bất phân như trong sách thiếu nhi. Người Trung Quốc vẫn ghi nhớ người Nhật là kẻ thù. Người Do Thái ghi tâm người Đức không thể là bạn. Người Campuchia thì dễ hiềm khích với người Việt, và người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ, người Việt Nam không có cớ gì quên đi lịch sử rằng mình có những lý do phải lo ngại Trung Quốc.

Việc bào mòn ý thức ấy, cũng như những thẻ bùa yểm mà “kẻ lạ” đã từng âm thầm cài đặt trên đất nước Việt nhằm huỷ diệt nguyên khí tổ tiên để lại. Mà hôm nay, đoạn nhạc “mười mấy giây” ngày 27/7 nhắc nhở và thúc đẩy đoàn tụ với tổ quốc xa xôi nào đó, chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Điều cần phải tìm và giải quyết là phải nhổ bật mọi cọc nhọn được cài đặt, đang nhằm vào trái tim Việt, mà cay đắng thay, kẻ đóng cọc có thể không phải từ “nước lạ” lén lút đến, mà ngang nhiên là từ những người cùng màu da, tiếng nói nhưng linh hồn đã lạc loài.

Trách phạt một chương trình văn nghệ hay kỷ luật ông Lê Hùng đâu có nghĩa lý gì. Và chúng ta cũng đừng dễ dàng hài lòng với một kết quả quá nhanh và quá nguy hiểm như vậy. Chuyện “chỉ mười mấy giây” ắt đã phải bắt nguồn từ mười mấy năm, hoặc hơn. Đừng nghe những gì họ đang nói, mà có lẽ nên nhìn kỹ hơn những gì họ đã làm.


Tuấn Khanh

Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/08/04/nhin-vao-hau-truong/


(Bài viết của tác giả bauxitevn)

Nhiệm vụ cơ mật của Đại tướng Lê Đức Anh

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Một bài ca tụng và hàm chứa rằng ông thầy của mình là Đại tướng Lê Đức Anh là người đã tạo cú hích thành công trong việc bình thường hóa quan hê Việt Mỹ, Đại tá Khuất Biên Hòa đã hoặc rất mù thông tin, hoặc vì quá trung thành với chủ nên XHCN (xạo hết chỗ nói).

Tác phẩm "Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm hỏi ông Boby Muller, cựu binh Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam" của tác giả Phạm Cao Phong, đạt giải 3 cuộc thi ảnh "Quan hệ Việt-Mỹ và nước Mỹ qua ống kính của các nhà nhiếp ảnh Việt Nam". Ảnh chụp năm 1995, tại New York. Ảnh: VietnamNet.

Ngồi không lần đọc các báo điện tử gặp bài “Nhiệm vụ cơ mật của Đại tướng Lê Đức Anh” trên VietNamNet [1] do Đại tá Khuất Biên Hòa (nguyên trợ lý – nói theo kiểu miền Nam là “tà lọt” cho ông Lê Đức Anh) viết, trong đó ông “tà lọt” ca tụng thầy mình là người đã tạo dấu mốc thúc đẩy thành công việc bình thường hóa quan hê Việt-Mỹ thông qua việc giao nhiệm vụ “cơ mật” cho Thiếu tướng, Giáo sư, Bác sỹ Nguyễn Huy Phan (mất năm 1998).

Thú thật lâu nay tôi không ưa nếu không muốn nói là căm ghét ông Lê Đức Anh vì hai lý do:

Thứ nhất ông là một trong những người đã thúc đẩy ký Hiệp ước Thành Đô năm 1990 [2] đưa dân tộc vào vòng khống chế của Trung Quốc (“Bắc thuộc lần thứ 5”).

Thứ hai, theo thông tin mà tôi đọc rất nhiều trên mạng thì chính ông Lê Đức Anh, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ra lệnh cấm bộ đội Việt Nam chống trả cho nên 66 người không một tấc sắt trong tay đã bị đạn của Trung Quốc giết chết một cách uất ức ở đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988 [3].

Từ hai căm ghét đó, cộng thêm tất cả các thông tin mà tôi đọc từ lâu nay đều cho thấy việc bình thường hóa Việt Mỹ là do ông Nguyễn Cơ Thạch nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao gầy dựng, nay lại thấy có một anh đứng ra, nhận vơ thì chưa biết, nhưng ỉm lờ đi công lao của người khác nhất là đồng chí của mình, lại thêm thấy anh “tà lọt” nịnh chủ mất cả lý trí công tâm nên truy cho ra lẽ:

Hai sự kiện mà ông “tà lọt” đưa ra là ông Nguyễn Huy Phan nhận “nhiệm vụ cơ mật” từ ông Lê Đức Anh là hai hội nghị quốc tế về vi phẫu thuật. Tìm hiểu thêm thì hai hội nghị đó có thật:

Một là “Mùa Đông 1979, Nguyễn Huy Phan được Hội Phẫu thuật tạo hình Pháp mời sang tham gia một số cơ sở tạo hình ở Paris, Lyon, Marseille và dự Hội nghị phẫu thuật tạo hình lần thứ 24 của Pháp với sự tham gia của khoảng 500 đại biểu trong và ngoài nước” [4].

Hai là “Tháng 1-1995, Hội Phẫu thuật tạo hình Hoa Kỳ mời Nguyễn Huy Phan dự Hội nghị quốc tế phẫu thuật tạo hình tại Florida

“Mười mấy giây” từ tiềm thức

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Thế là vụ phát thanh bài nhạc “Ca ngợi tổ quốc” trong buổi kỉ niệm ngày thương binh liệt sĩ vừa qua đã có người chịu trách nhiệm. Bài QĐND cho biết sẽ xử lí sai sót trong việc tấu bài ca đó (1). Nhưng điều thú vị là trong bản tin của QĐND, người ta đề cập đến bài nhạc đó là “nhạc nước ngoài” một cách hững hờ. Như các bạn theo dõi thời sự biết, đó là bài Quốc ca thứ hai của Tàu cộng, chứ không chỉ đơn giản là “nhạc nước ngoài”.
Người chịu trách nhiệm trong việc dàn dựng chương trình là người nghệ sĩ tên Lê Hùng, có danh hiệu “Nghệ sĩ Nhân dân”. Lần đầu tiên tôi nghe đến tên của nghệ sĩ này. Ông nói với BBC Vietnamese như là một biện minh rằng “Đoạn nhạc đó chỉ có mười mấy giây, và không có lời, dùng làm nhạc hiệu để Chủ tịch nước đi lên bục phát biểu thôi và đã được chỉnh sửa ở những lần phát lại sau đó” (2). Các bạn có cảm thấy thuyết phục?
Tôi thì thấy chưa thuyết phục mấy. Khó có thể nói chỉ mười mấy giây là bỏ qua được. Nên nhớ rằng có khi các đài truyền hình như VTV chỉ cần quảng cáo 15 giây mà số tiền có thể lên đến 200 triệu đồng. Đằng này, Tàu cộng chẳng tốn xu nào mà vẫn được đài truyền hình quốc gia Việt Nam quảng cáo... miễn phí! Nhưng vấn đề không chỉ là tiền và thời gian, mà là bối cảnh của bài hát đó, là danh dự quốc gia. Bối cảnh là bài ca đó được tấu lên trong ông Chủ tịch Nước Việt Nam bước lên khán đài, làm cho người xem hiểu đó là một bài quốc ca của Việt Nam.
Ông đạo diễn chưa giải thích tại sao sự cố lại xảy ra. Tôi đồ rằng vì lẫn lộn giữa bài “Ca ngợi Tổ quốc” của Tàu và Việt Nam. Nên nhớ là Việt Nam (ngoài Bắc) bắt chước Tàu, và cũng viết bài có tựa đề “Ca ngợi Tổ quốc”. Do đó, khi chọn bài người chọn không chú ý bài của Tàu hay của Việt Nam. Đó là hệ quả thê thảm nhất của sự bắt chước, vì nó làm nhạt nhòa lằn ranh giữa cái của mình và cái của người ta. Đành rằng ai cũng phải bắt chước để học hỏi, nhưng là bắt chước kẻ giỏi hơn mình, cao hơn mình. Chẳng ai bắt chước kẻ thù của mình, hay kẻ mà mình đánh giá thấp. Ấy thế mà Việt Nam, một đất nước tự hào với hàng ngàn năm lịch sử, lại đi bắt chước kẻ thù phương Bắc, một kẻ thù mà tiền nhân chúng ta xem chẳng ra gì. Không còn chữ nào khác hơn là chữ “nhục”.
Chẳng hiểu sao sự cố “Ca ngợi tổ quốc” cứ làm tôi ám ảnh bởi lí thuyết của Sigmund Freud. Có lẽ các bạn còn nhớ hay đã biết, Freud cho rằng những nhầm lẫn và sai sót của chúng ta, từ lời nói đến hành vi và hành động, tiết lộ những cảm nhận và suy nghĩ ở tiềm thức. Các nhà tâm lí học cho một ví dụ rất thú vị là một anh chàng kia tên là Tôm một hôm gọi tên cô bạn gái mới của anh ta bằng cái tên của người bạn gái cũ. Nhìn bề ngoài thì chỉ là một sai sót nhỏ, có thể là ngẫu nhiên. Nhưng đối với giới phân tâm học, nhầm lẫn của Tôm không phải là ngẫu nhiên, mà có một lực trong tiềm thức, ngoài sự nhận thức của Tôm, định hướng cho anh ta. Cũng có thể dùng lí thuyết của Freud để giải thích rằng sự cố “Ca ngợi tổ quốc” không phải là biến cố ngẫu nhiên, mà nó nằm ở trong tiềm thức của những người thân Tàu, và cái tiềm thức đó chi phối đến những hành vi của họ. Do đó, những vụ việc như cờ đỏ có 6 sao, như thề thốt với Tàu là lòng dạ Việt Nam trước sau như một là trung trinh với họ, v.v. tất cả đều do tiềm thức thân Tàu mà ra, chứ không phải sai sót ngẫu nhiên.

Xã hội hóa - Đừng là tống tiền hóa hay hối lộ hóa!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tôn trọng tác giả nên chúng tôi giữ nguyên cái tiêu đề chua chát trên đây chứ trong thâm tâm chúng tôi chỉ muốn đổi nó thành một tiêu đề đơn giản mà thiết thực hơn: Những câu hỏi dành để hai ông Phạm Quang Nghị và Nguyễn Thế Thảo trả lời.

Thực thế, trong khoảng thời gian một vài năm nay, hay rộng hơn là kể từ dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long lại đây, nhân dân khắp nước hầu như ai cũng thấy hai ông cầm quyền của mảnh đất “ngàn năm văn vật” làm nhiều chuyện tự tung tự tác không ai hiểu ra sao nữa. Các ông bày ra vô khối việc tốn kém rất nhiều tiền của dân, ích lợi đâu chẳng thấy, chỉ thấy hậu quả nhãn tiền “tiền mất tật mang”, và sẽ là tai họa lâu dài cho Hà Nội, từ cái nhà bảo tàng trống huếch và xuống cấp trầm trọng, ngôi chùa danh tiếng Trăm Gian bị phá, những công viên, hồ nước bị thu hẹp, cắt xén, để bán làm nơi kinh doanh, kể cả đắp nổi thành bán đảo giữa hồ hoặc đào xới dưới lòng đất sâu cho xe đỗ... Sao các ông nỡ đối xử với một vùng “đất thiêng” với tầm trí tuệ “phàm phu” đến vậy? Các ông nỡ coi người dân Hà thành - và rộng ra người dân cả nước - như cỏ rác được sao?

Ấy thế mà đến khi kiểm điểm, xử lý những việc làm sai làm hỏng khiến khắp nơi bất bình thì các ông lại lẩn đâu mất, chẳng thấy tẻo teo trách nhiệm nào dành cho chính mình. Trong vụ chặt phá ồ ạt cây xanh có thể nói là một hành động bạo lực phá hoại môi trường vô văn hóa chưa thấy diễn ra ở đâu trên hành tinh này, trước búa rìu dư luận, rốt cuộc các ông lại “giơ cao đánh sẽ”, chỉ buộc duy nhất một người lao động hợp đồng phải thôi việc, đem anh ta ra làm hình nhân thế mạng, trong khi “chính danh thủ phạm” thì vẫn nhởn nhơ ở ngoài vòng. Vậy thì tương lai của một Thủ đô văn hiến sẽ ra sao khi hầu hết những khuôn mặt mà ai nấy đều đã nhìn rõ qua các “vai tuồng bi hài” họ đóng bấy nay vẫn cứ nhân danh nhân dân để chễm chệ trên đầu nhân dân? Thú thực với các ông, những hạ dân như loại chúng tôi lúc nào cũng lo ngay ngáy, không thể nào yên lòng cho được.

Vì thế, xin các ông hãy chịu khó “bớt chút thì giờ vàng ngọc” đọc kỹ bài viết dưới đây. Chỉ mong rằng đó là những “viên thuốc đắng” có khả năng “dã tật”. Và cũng mong thêm chút nữa, sau khi đọc kỹ, các ông sẽ ngẫm nghĩ để hiểu được rằng dưới gầm trời Nam này, “kính chiếu yêu” tuy vô hình nhưng ở đâu cũng có cả.

Gs. Chu Hảo: Rất nghiêm trọng! Không thể để chìm xuồng!

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

clip_image002

Có nhiều sự cố “lỗi tại cậu đánh máy”, nhưng lỗi của “cậu ấy” lần này hơi bị to. Nghiêm trọng hơn và thảm hại hơn! Tôi muốn nói đến khúc nhạc đệm rền vang khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên diễn đàn (để đọc diễn văn khai mạc trong buối giao lưu trực tuyến nhân ngày 27 tháng 7 vừa qua tai Hội trường Bộ Quốc phòng) là giai điệu bài hát Ca ngợi Tổ quốc của Trung Quốc, rất nổi tiếng từ những năm 50 thế kỷ trước, và cũng mới được ông Tập Cận Bình cùng hát với dàn đồng ca.

Đây cũng có thể là lỗi kỹ thuật vô tình, như tôi đã từng được chứng kiến tại Lễ đón tiếp Chủ tịch Trần Đức Lương của Tổng thống Ấn Độ vào năm 2001. Khi chào cờ Việt Nam đáng lẽ phải cử bài Quốc ca của ta theo nhạc điệu hành khúc Tiến quân ca của Văn Cao, thì bộ phận kỹ thuật của bạn cho phát bài Quốc ca của Việt Nam Cộng hòa thời trước 1975 theo nhạc điệu bài Thanh niên hành khúc của Lưu Hữu Phước. Bê bối hết sức! Lúc ấy tôi và anh Phạm Hồng Giang (nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi), đứng ở cuối hàng dọc, cố tình không đứng nghiêm và tìm cách ra hiệu cho cả đoàn biết là đây không phải Quốc ca. Nhưng đáng tiếc là cả đoàn vẫn đứng rất nghiêm cho đến nốt nhạc cuối cùng của bài “Này thanh niên hỡi, quốc gia đến ngày giải phóng…”. Chúng tôi được biết Chủ tịch Trần Đức Lương rất phàn nàn về sự cố và cũng được biết là anh Nguyễn Đình Bin (Nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại giao), người chịu trách nhiệm về lễ tân của đoàn đã nhận tất cả thiếu sót về sự không kiểm tra chu đáo của mình. Ngay sau đó anh Bin cho đoàn biết là bộ thuật kỹ thuật của phía bạn rút đĩa nhạc từ ngăn đánh dấu chữ "Việt Nam" trong rương đựng đĩa Quốc ca các nước mà không kiểm tra lại xem đó là bài nào. Trong bữa tiệc chiêu đãi tối hôm ấy Tổng thống Ấn Độ đã ngỏ lời xin lỗi Chủ tịch nước ta. Phía bạn xử lý vụ này thế nào chúng tôi không được biết. Nhưng về phía ta hình như anh Bin không việc gì. Và như vậy là hợp lý vì, theo chúng tôi, giá mà vị Chủ tịch Nước hoặc là không lơ đãng đến nỗi không nhận ra bài nào là Quốc ca của mình, hoặc nhận ra mà biết xử lý kịp thời, yêu cầu dừng nhạc lại thì hay biết bao nhiêu…

Tuy nhiên, chắc chắn đây là lỗi vô tình vì vào lúc ấy quan hệ giữa hai Nhà nước rất tốt đẹp và không ai có lợi gì trong vụ nhầm lần này. Nhưng lỗi kỹ thuật xẩy ra trong tối giao lưu nhắc đến ở trên thì hoàn toàn khác. Nó xẩy ra vào lúc quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc đang có rất nhiều trục trặc, bất thường và nguy hiểm. Lỗi kỹ thuật dù vô tình hay hữu ý ấy đều là mong muốn của những kẻ muốn ta trở thành chư hầu của bè lũ bá quyền Đại Hán Bắc Kinh, đều là sự xúc phạm nghiêm trọng đến Chủ tịch Trương Tấn Sang, đến tình cảm dân tộc chính đáng của đồng bào cả nước. Nếu là lỗi vô tình thì người chỉ đạo nghệ thuật của chương trình non yếu quá. Nếu là lỗi cố tình thì vấn đề trở nên hết sức nghiêm trọng, dù nó liên quan trực tiếp đến cấp lãnh đạo cỡ nào, càng cao càng nguy. Sự cố này không thể để “chìm xuồng”.

Địt con mẹ thằng Trần Bình Minh!

2 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tối ngày 27/7/2015, một chương trình nghệ thuật có tên “KHÁT VỌNG ĐOÀN TỤ” đã diễn ra tại Bộ Quốc phòng và được trực tiếp truyền hình trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. Chương trình quy tụ nhiều quan chức hàng đầu Việt Nam, gồm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam... và gần 500 đại biểu là lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Ngay khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bước lên sân khấu để đọc diễn văn khai mạc thì một đoạn nhạc được phát lên:

[Xem phút thứ 4:12]

Đây là đoạn nhạc ở trong bài “Ca xướng tổ quốc”, vốn được xem là “quốc ca thứ hai” của Trung Quốc. Bài hát này do ông Vương Tân, người Vô Tích, Giang Tô, Trung Quốc, sáng tác vào tháng 9/1950.

[Xem phút 2:17]


ĐỊT CON MẸ THẰNG TRẦN BÌNH MINH!

Đường sắt Cát Linh - Hà Đông: Vì sao lại nhấp nhô?

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Thực sự người dân Hà Nội khám phá nhiều điều lạ lùng dọc đường sắt Cát Linh - Hà Đông. Sau vụ chặt cây vẫn còn tươi đẹp thì bây giờ đến lượt đường vượt có độ cao “cong mềm mại1.
Trả lời thắc mắc của dư luận, ông Lê Kim Thành ‒ Tổng giám đốc Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Giao thông Vận tải) ‒ cho biết đó là “chủ ý quy trình thiết kế để nâng cao hiệu quả khai thác, giảm tiêu hao năng lượng cho tàu điện. Khi vào ga bắt buộc phải dừng tàu đưa lên trắc dọc, đi lên dốc đỡ phải hãm phanh, đỡ tiêu hao năng lượng. Khi tàu đi ra khỏi ga có gia tốc để tàu tạo ra động lực đỡ phải tiêu hao năng lượng nhiều. Và các nước cũng thiết kế theo quy trình đó2.

Thực vậy, bạn đọc ở vùng Paris có thể thấy những khúc tàu điện trên các trạm ga mới xây đều cao hơn tuyến đường ở ngoài ga. Cao hơn nhiều hay ít là tùy ở trọng lượng và vận tốc các tàu đã được thiêt kế để chạy trên tuyến đường. Thiêt kế như vậy là để tiết kiệm năng lượng. Nhưng chỉ tiết kiệm ít so với tiết kiệm năng lượng nhờ tàu chạy bằng động cơ điện.
Trên một tuyến đường thì đoàn tàu lúc khởi hành, lúc hãm phanh, lúc tăng tốc, lúc giảm tốc, lúc lên dốc, lúc xuống dốc. Khi khởi hành, tăng tốc hay lên dốc thì động cơ điện hút thêm điện từ mạng lưới quốc gia để có thêm năng lượng mà kéo đoàn tàu. Khi giảm tốc độ để chạy chậm hơn hay khi xuống dốc thì đà của đoàn tàu tiếp tục làm quay động cơ biến động cơ thành ổ phát điện. Đông cơ tiếp tục quay tham gia với bộ phanh làm giảm vận tốc, biến động năng của đoàn tàu thành điện năng. Điện năng đó được nhồi vào mạng lưới quốc gia làm giảm nhu cầu năng lượng cuả toàn bộ hệ thống đường sắt.
Nếu đoàn tàu phải chạy lên khi vào trạm ga để ngừng thì phanh sẽ được chiếu cố ít để hãm tàu và nếu đoàn tàu phải chạy xuống khi rời ga và tăng tốc thì bớt phải rú động cơ. Như vậy, sẽ giảm hao mòn của hệ thống phanh và của các động cơ. Các thiết bị này sẽ cần ít bảo trì hơn và đời sống kỹ thuật của chúng sẽ được kéo dài lâu hơn. Đó mới là lý do chính để đoạn đường ray ở ga phải cao hơn trung bình tuyến đường một chút.
Một hệ thống đường sắt đô thị nói chung có các ga cách nhau dưới một cây số nên phương tiện giao thông liên tục phải khởi hành, hãm phanh, tăng tốc và giảm tốc. Tiết kiệm về điện, về bảo trì và hao mòn thiết bị tuy mỗi lần thì rất nhỏ, nhưng nhân lên nhiều lần thì trở nên quan trọng trong khi tổng kết chi phí khai thác của một tuyến đường. Đây cũng là lý do chúng tôi kêu gọi điện hóa các tuyến đường sắt hiện có trước khi xây lại hay xây thêm một tuyến đường theo khổ tiêu chuẩn quốc tế.

Viết thêm để khỏi nhầm về cố TBT Nguyễn Văn Linh

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh cho Nguyễn Văn Linh
Cố TBT
Nguyễn Văn Linh

Mấy hôm nay, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, báo chí lề phải hết lời ca ngợi ông, còn báo chí lề trái có ý muốn nhắc nhở: “Ông Linh có công với Đảng nhưng  đối với dân tộc thì còn chờ phán xét của lịch sử”. Tôi xin góp một tiếng nói vào sự phán xét ấy.


Công lao thực sự của đổi mới kinh tế, đặc biệt là về nông nghiệp thuộc về ai?

Nhớ lại,  hồi những năm 1984 - 86, vì kiên trì đường lối XHCN mà nền kinh tế  VN rơi xuống tận đáy cảnh bần cùng. Nhờ sự đổi mới từ ĐH VI của Đảng với Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mà toàn dân thoát khỏi cảnh “đói triền miên” và có gạo xuất cảng.  Người ta quy công ấy cho ông Linh, nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác Lênin (CNML) mà đạt được.

Tôi mong ước những nhà sử học trung thực nghiên cứu kỹ giai đoạn này để xem công lao thực sự của đổi mới kinh tế, đặc biệt là về nông nghiệp thuộc về ai. Theo tôi trước hết phải kể đến ông Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, ông  Đoàn Duy Thành ở Hải phòng, và người có tác dụng quyết định là tổng bí thư Trường Chinh (sau khi TBT Lê Duẩn mất). Ông Trường Chinh, ban đầu vì ý thức hệ mà phản đối Kim Ngọc nhưng rồi ông đã thấy được sự thật, đã dũng cảm chấp nhận sự thật để phủ định mình trước đó, để chỉ đạo ĐH VI tiến hành đổi mới về kinh tế.  Đáng ra tại ĐH VI, người xứng đáng được bầu làm Tổng bí thư phải là ông Trường Chinh, nhưng vì một lý do nào đó trong quan hệ mà các ông Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh không tiếp tục làm lãnh đạo mà chỉ làm cố vấn. Trong hoàn cảnh như thế ông Linh được lựa chọn để thực thi quan điểm đổi mới của ĐH. Người ta giải thích đổi mới 

Thượng Tướng, Phó chủ tịch Quốc Hội mà thế này đây

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook


“Ta như thế này thì bà con thấy ta ăn thua với họ được không?”

Nguyễn Văn Tuấn
01-07-2015

Tôi đọc trên một website lề dân thấy tác giả trích câu nói của ông Phó chủ tịch Quốc hội làm tôi kinh ngạc. Đại khái ông nói rằng VN mình coi như bó tay, không thể đòi hay lấy lại Hoàng Sa & Trường Sa đã mất vào tay giặc. Ông còn nói như thách thức: “ai có giỏi thì thử chỉ huy ra đó coi có thắng không”. Tôi không tin vào mắt mình và không tin tác giả trích dẫn đúng, nên tôi thử google thì quả thật câu nói này trong báophapluat.vn! Nhưng vào trang web thì thấy người ta đã xoá câu nói này.


Báo phapluat.vn có đi bài “Vì sao Quốc hội chưa ra Nghị quyết về biển Đông” mà trong đó ông Phó chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn giải thích tại sao không cần ra nghị quyết về Biển Đông. Theo bản tin lề dân thì nguyên văn câu ông nói là:

“Không lẽ bây giờ bà con bảo là đánh nhau…. Nhiều lần ta cũng nghĩ tới việc lấy lại nhưng trong lúc này chưa thể lấy lại được. Để đời con đời cháu chúng ta lấy lại. Trung Quốc bây giờ họ củng cố gần như là bất khả xâm phạm rồi”.
Nhưng càng ngạc nhiên hơn, tác giả cũng trích một câu khác của ông: “Ta như thế này thì bà con thấy ta ăn thua với họ được không? Ai tài giỏi thì thử chỉ huy ra đó coi có thắng không? Đánh được rồi nhưng có giữ được không?”

Vào trang phapluat.vn thì thấy người ta đã lược bỏ hai câu “tế nhị” trên. Nhưng trong cache thì hai câu vẫn còn đó (xem hình). 


Như vậy, rõ ràng là ông thượng tướng có nói câu đó, và báo lề dân trích dẫn đúng.

Phải nói rằng khó có một đại biểu QH nào mà nói thẳng như thế. Phong cách rất Nam bộ (và tôi đoán ông này chắc là dân miền Nam). Nhưng cũng chính cách nói “ta như thế này …” giúp chúng ta hiểu rõ hơn thái độ của chính quyền trước sự hung hãn của Tàu. Càng ngạc nhiên hơn khi biết rằng người phát ngôn câu này là một thượng tướng trong quân đội! Không biết các vị khác nghĩ gì về hai câu nói bất hủ này.

_____________

Bài đọc thêm:
Vì sao Quốc hội chưa ra Nghị quyết về biển Đông?

Báo Pháp luật TP HCM
LÊ PHI (lược ghi)
 
(PLO) - Sáng 29-6, các cử tri đã chất vấn nảy lửa về động thái của Quốc hội, Chính phủ về tình hình trên trong cuộc tiếp xúc với đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng.

TIN LIÊN QUAN
Biển Đông: ‘Quốc hội sẽ phản ứng khi cần thiết’
Obama nhắc Trung Quốc về biển Đông

Về việc kỳ thị Cử nhân Dân lập

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Anh em cử nhân và sinh viên dân lập yêu quý,


Non nửa thế kỷ nay, nhiều thế hệ trí thức, sinh viên quốc dân đã không ngừng nỗ lực phấn đấu để xây dựng và phát triển một hệ thống tri thức thống nhất và độc lập cho tổ quốc ta. Toàn thể trí thức tiền bối, cựu sinh viên các đại học ngoài và trong nước, sinh viên du học (thanh niên xa mẹ), sinh viên công lập viet-nam, luôn luôn thương cho các anh em, vì biết rằng các anh em khốn khổ.


Khốn khổ về tinh thần — Vì cũng đầy lòng khát khao học tập mong lấy cho được tấm bằng đại học bằng anh bằng em, nhưng các anh em lại chưa có đủ điều kiện về vật chất, về trí tuệ, hoặc về cả hai thứ, để được chen vai thích cánh bình đẳng với toàn thể sinh viên công lập viet-nam, chưa nói sinh viên học giỏi đi du học, hay thậm chí sinh viên học dốt phải đi du học bằng tiền của bố, trong công cuộc đấu tranh giành bằng cấp để kiếm cho được công ăn việc làm xây dựng đất nước của chúng ta.


Khốn khổ về thể xác — Vì các anh em luôn luôn bị giới đào tạo viet-nam lừa gạt phỉnh phờ, treo bằng đại học bán kiến thức còn ngu hơn cả kiến thức dạy nghề, thu tiền vào cho đầy túi, bán ra loại bằng ngày càng bị xã hội bịt mũi phỉ nhổ, rồi ném các anh em ra đường mặc cho giới truyền thông bêu diếu, giới tuyển dụng giày vò, kỳ thị, hành hạ, uy hiếp, ngược đãi, bị chúng áp bức đủ mọi bề như cá nằm trên thớt.


Trí thức, sinh viên du học, và toàn thể sinh viên công lập viet-nam không bao giờ quên các anh em vì đang lúc mọi người đều được tự do học tập kiến thức, lấy bằng, xin việc, thì riêng các anh em bị lâm vào cảnh nô lệ bằng cấp dân lập.


Vì những lẽ đó mà trí thức, sinh viên du học, và toàn thể sinh viên công lập viet-nam muốn nhắn nhủ với các anh em mà đang có nguy cơ sắp bị lâm vào cảnh nô lệ dân lập đó rằng, các anh em luôn phải khắc cốt ghi tâm là:


Quan chức hãy học hỏi thêm về luật pháp và trách nhiệm giải trình

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Như tin mà nhóm Vì một Hà Nội xanh đã đưa, vào chiều 23/6/2015, Phòng Tiếp công dân UBDN TP Hà Nội đã mời hai đại diện của nhóm đến làm việc - nguyên văn thư mời là “trao đổi về nội dung đơn của ông/bà gửi UBND TP (ghi ngày 28/5/2015), liên quan đến việc chặt hạ, thay thế cây xanh”.
Ngay từ đầu cuộc trao đổi kéo dài hơn một tiếng này, phía các quan chức của UBND đã tỏ rõ tâm lý muốn lấn át, bắt nạt hai người dân đại diện cho một nhóm dân sự đang bị coi là “phản động” hoặc “bị thế lực thù địch giật dây”. Đó là khi ông Phó Chánh Văn phòng UBND TP Phạm Chí Công tung đòn phủ đầu: “Theo Điều 6, Nghị định 90 (tức là Nghị định 90/2013/NĐ-CP ngày 8/8/2013, quy định về trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao - NV), điều kiện để cơ quan nhà nước giải trình là vấn đề phải trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có đề nghị. Cho nên với cái nội dung này, chúng tôi không giải trình”.

Trong toàn bộ cuộc nói chuyện, ông cũng thường xuyên lặp đi lặp lại ý đó với thái độ kẻ cả và miệt thị người đối thoại: “Anh chị cùng một số người dân dùng từ này trên đơn là không đúng pháp luật”, “Anh chị đọc Nghị định 90 mà anh chị không nắm đúng tinh thần nên chúng tôi giải thích cho anh chị rõ”, “Đề nghị các anh chị nghiên cứu kỹ các quy định của pháp luật để có kiến nghị, phản ánh đúng quy định”, v.v.
Ở đây, tạm không bàn đến vấn đề thái độ của một quan chức trong khi tiếp dân, thì vẫn phải nhận xét rằng ông Phạm Chí Công nói riêng và các đại diện của chính quyền nói chung trong cuộc tiếp dân ngày 23/6 đã phạm nhiều sơ hở và sai lầm nghiêm trọng trong lập luận, cho thấy hiểu biết còn hạn chế của họ về pháp luật và hành chính công.

 “Tiếp dân”: Mời các anh chị đi ra! 

Lập luận 1: Về yêu cầu “phải liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp”
Điểm chính yếu mà UBND TP Hà Nội bám vào để bác bỏ việc trả lời văn bản yêu cầu giải trình của nhóm Vì một Hà Nội xanh là “Điều 6, Nghị định 90/2013/NĐ-CP” về điều kiện tiếp nhận đơn, theo đó “nội dung yêu cầu giải trình liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có yêu cầu giải trình”.
(Xin nhắc để Ban Tiếp Công dân sửa lại là Nghị định này được ban hành ngày 8/8/2013 chứ không phải ngày 17/7/2013 như quý Ban đã ghi sai trong biên bản làm việc).
Vậy, mấu chốt ở đây là phải làm rõ xem việc chặt hạ, thay thế cây xanh có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân đứng tên yêu cầu giải trình hay không. Nói chung, không khó khăn gì lắm để gần 70 người có tên trong văn bản yêu cầu giải trình chứng minh được sự tồn tại của cây xanh Hà Nội có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ, ví dụ họ có thể chỉ ra rằng họ sinh sống ở thủ đô, họ thường xuyên phải ra ngoài đường, và cây xanh ít nhất thì cũng có tác dụng che mưa che nắng cho họ, lớn hơn nữa thì mang lại bầu không khí trong lành cho đô thị, làm đẹp cảnh quan, và họ cũng có quyền được hưởng những lợi ích đó. Chặt hạ cây tác động xấu tới môi sinh; còn thay thế cây thì rõ ràng thay những cây bóng mát lâu năm bằng những cây khẳng khiu trụi lá cũng tương đương một sự phá hoại. Điều đó ảnh hưởng tới lợi ích của ít nhất 70 con người và là ảnh hưởng trực tiếp, vì mọi hoạt động sinh sống, hít thở, đi lại… đều chịu tác động trực tiếp từ môi trường, từ không khí mà cây xanh giúp lọc, không thông qua trung gian nào.

Hà Nội băm sáu phố phường (Thạch Lam)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook






HÀ NỘI BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG
(Thạch Lam)





LỜI TỰA
Người Pháp có Paris, người Anh có London, người Tàu có Thượng Hải... Trong các sách vở, trên các báo chí, họ nói đến thành phố của họ một cách tha thiết, mến yêu... Ta phải nghe người Pháp nói đến Paris, người ở Paris, mới hiểu được sự yêu quý ấy đến bực nào.
Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố có nhiều vẻ đẹp, vì Hà Nội đẹp thật (chúng ta chỉ còn tìm những vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến. Yêu mến Hà Nội với tâm hồn người Hà Nội, cũng như người Parisien chính hiệu yêu mến Paris... Trong những cuộc phiếm du, — phiếm du ngoài các phố Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có — ta nên chú ý đến những nét đổi thay của thành phố, nên nhận xét những vẻ đẹp cũng như vẻ xấu của phố phường, thân mật với những thú vui chơi hay những cảnh lầm than, với những người Hà Nội cũng như ta.
Hà Nội có một sức quyến rũ đối với các người ở nơi khác... Ở những hang cùng ngõ hẻm của làng xa, hay ở những nương mật thẳm trong rừng núi, ban chiều vẫn có nhiều người ngóng về một phương trời để cố trông cái ánh sáng mở của Hà Nội chiếu lên nền mây. Để cho những người mong ước kinh kỳ ấy, và để cho những người ở Hà Nội, chúng ta khuyến khích yêu mến Hà Nội hơn, chúng ta nói đến tất cả những vẻ riêng của Hà Nội, khiến mọi sự đổi thay trong ba sáu phố phường đều có tiếng vang ra khắp mọi nơi.

NHỮNG BIỂN HÀNG
Trước hết có hiệu trâu vàng, hẳn thế. Ấy là câu chuyện huyền thoại của ông Khổng Minh Không đã được hình tượng ra bằng hai cái biển. Rồi đến hiệu bò vàng, cá chép vàng (cá chép hóa long thì đúng hơn và con cá này đã trái tật chạy lên Hàng Ngang rồi), con lạc đà (không biết đến đây để làm gì?), con gà sống (kim kê hẳn thôi), con hươu sao, con kỳ lân, con phượng (lai hoàng), con rùa rùa (kim quy), con rùa rùa này về núi rồi, con vịt che ô, con voi (con này cũng về rừng), và con tê giác. Các nhà hàng còn lâu mới dùng hết được tên các loài vật. Và chúng ta nên nhận rằng trong các con vật đã dùng, không có con nào dữ cả. Con tê giác thì kể là vật dữ, nhưng con tê giác ở Hàng Đào thì lành lắm: nó không cắn ai bao giờ. Không có hổ vàng hay sư tử vàng, chẳng hạn. Vì những con vật trên kia là những con vật thần linh chăng, hay là những con vật chỉ lành có thể gợi lòng tin của khách mua? Con trâu, con hươu, con bò... những con vật này có làm hại được ai bao giờ đâu? Vào nhà con trâu, con hươu mua vải, lụa, chắc không bị hớ, chắc sẽ được nhà hàng tiếp đãi niềm nở và tử tế (như các bà bán hàng Việt Nam biết tiếp khi khách chỉ mặc cả mà không mua, hay muốn mua mà trả rẻ), và nếu họ có bị dại như một con bò thì cũng được an ủi rằng ít ra cũng là một con bò vàng.
Tôi chỉ không hiểu tại sao bỗng dưng lại có con lạc đà. Con vật này hình như lạc loài vào đám ấy, giữa những con vật mà nó không quen bao giờ. Người phương Tây khinh ai thường gọi: cái anh lạc đà ấy...

...

QUÀ HÀ NỘI
Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho. Con cháu ngày giỗ kỵ đưa về dâng cha mẹ, hay các bà mẹ ra tỉnh mua về cho các con, và chồng đi làm Nhà nước ngày nghỉ mua tặng cho cô vợ mới cưới... Bao nhiêu ý tốt tình hay gửi vào trong chút quà nơi đô hội, món quà đem đến cho khắp nơi các vị sành và trang nhã của băm sáu phố phường.

Download bản “HÀ NỘI BĂM SÁU PHỐ PHƯỜNG” đầy đủ (165KB):


Hướng dẫn cách dùng tủ sách: Tủ sách của Chương trình me()
(Xem comment của Nhật Linh)
Hàng Quà Rong
Người Hà Nội, ăn thì ngày nào cũng ăn, nhưng thường không để ý. Nếu chúng ta về ở tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà ở Hà Nội ngon là chừng nào. Cũng là thứ bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, từ cái nước chấm ngon đi.
Trong một ngày, không lúc nào là không có hàng quà. Mỗi giờ là một thứ khác nhau; ăn quà cũng là một nghệ thuật: ăn đúng cái giờ ấy và chọn người bán ấy, mới là người sành ăn.
Tang tảng sáng, tiếng bánh Tây đã rao, lẫn với tiếng chổi quét đường. Đó là quà của những người thợ đi làm sớm. Rồi, có từng độ, phố xá vang lên tiếng rao "bánh rán nóng, trinh một, xu đôi" của một lũ trẻ con. Cái bánh rán vừa cứng và xấu, thật làm giảm thanh thế của quà Hà Nội, do một cửa hàng nào đó muốn kiếm lời, cứ muốn bắt thiên hạ ăn bánh rán lúc còn ngái ngủ.
Này đây mới là quà chính tông: bánh cuốn, ăn với chả lợn béo, hay với đậu rán nóng. Nhưng là bánh cuốn Thanh Trì mỏng như tờ giấy và trong như lụa. Vị bánh thơm bột mịn và dẻo. Bánh chay thì thanh đạm, bánh mặn đậm vì chút mỡ hành. Người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt và rổ trên đầu, từng tụm năm, bảy người từ phía Lò Lợn đi vào trong phố, dáng điệu uyển chuyển và nhanh nhẹn.
Rồi mùa nực thì hàng xôi cháo: cháo hoa quánh mùi gạo thơm, xôi nồng mùi gạo nếp. Xôi đậu, xôi lạc, xôi vừng mỡ và dừa. Ờ, cái xôi vừng mỡ, nắm từng nắm con, ăn vừa ngậy vừa bùi. Mà có đắt gì đâu! Ăn một, hai xu là đủ rồi. Mùa rét thì xôi nóng, hãy còn hơi bốc lên như sương mù, ăn vừa nóng người vừa chắc dạ.
Và có ai ngẫm nghĩ kỹ cái vị hành khô chưng mỡ ở trong bát ngô nếp bung non; hành giòn và thơm phức, những hạt ngô béo rưới chút nước mỡ trong... Ngô bung (xôi lúa) thì có nhiều hàng ngon, nhưng ngon nhất và đậm nhất là ngô bung của một bà già trên Yên Phụ. Cứ mỗi sáng, bà từ ô xuống phố, theo một đường đi nhất định, đã ngoài hai mươi năm nay, để các nhà muốn ăn cứ việc sai người ra đứng chờ. Bà đội thúng ngô, tay thủ vào cái áo cánh bông, và cất lên cái tiếng rao, tựa như không phải tiếng người, một tiếng rao đặc biệt và kỳ lạ: "Eéé...éc", "Eé...ééc...".
Đối với các bà, các cô đi chợ, cô hàng vải, cô hàng rau v.v... là những người ưa món quà gì vừa rẻ vừa ngon, lại vừa no lâu các cô khó tính, sành ăn và hay xét nét lắm đã có món quà của cô hàng cơm nắm lẳng lơ với hai quang thúng bỏ chùng. Món quà này sạch sẽ và tinh khiết, từ quà cho đến cả quang thúng, cả cô hàng, tóc vấn gọn, áo nâu mới, quần sồi thâm, cô hàng trông cũng ngon mắt như quà của cô vậy. Cơm nắm từng nắm dài, to nhỏ có, nằm trên chiếc mẹt phủ tấm vải màu trắng tinh để che ruồi, muỗi. Con dao cắt, sáng như nước, và lưỡi đưa ngọt như đường phèn. Cơm cắt ra từng khoanh, cô hàng lại cẩn thận gọt bỏ lớp ngoài, rồi lại cắt ra từng miếng nhỏ, vuông cạnh và dài, để bày trên đĩa. Cô muốn xơi với thứ gì? Với chả mới nhé hay giò lụa mịn màng? Các cô vừa ăn vừa nhai nhè nhẹ và thong thả hỏi han thân mật cô hàng: cùng bạn làm ăn cả, một gánh nuôi chồng nuôi con, đóng góp thì nhiều. Âu cũng là cái phận chứ biết làm thế nào.
Đối với các bà ăn rở và thích của lạ miếng và độc nữa đã có bà hàng tiết canh và lòng lợn. Một mâm đầy một bát tiết canh đỏ ối, ngòng ngoèo sợi dừa trắng, điểm xanh mấy lá húng tươi. Thế mà họ ăn ngon lành, một lúc hai, ba bát. Rồi đánh thêm một đĩa lòng vừa dồi, cổ hũ với tràng giòn. Ăn xong quét miệng đứng dậy, bước đi thành chậm chạp. Sao bằng ra đầu phố ăn một bát phở bã của anh hàng phở áo cánh trắng, gilet đen, và tóc rẽ mượt? Nồi nước sôi sùng sục, tỏa mùi thơm ra khắp phố. Nếu là gánh phở ngon cả Hà Nội không có đâu làm nhiều, thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt, và hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa. Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn thêm bát thứ hai. Và anh hàng phở chả phải gánh nặng đi đâu cả, chỉ việc đỗ một chỗ nhất định, cũng đủ bán một ngày hai gánh như chơi. Và người hàng phố tìm dấu hiệu để gọi tên anh cho dễ nhớ: anh phở trọc, anh phở Bêrê, anh phở Mũ Dạ, anh phở Cao... và dặn thằng nhỏ chớ mua hàng khác về "ông không ăn mà chết đòn".
Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì ở Hà Nội mới ngon. Đó là quà tất cả suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa, và ăn phở tối.
Phở bán gánh có một vị riêng, không giống như phở bán ở hiệu. Các gánh phở có tiếng ở Hà Nội đều được người ta đặt tên và tưởng nhớ: phố Ga, phố Hàng Cót, phố Ô Quan Chưởng, phố Cửa Bắc v.v...
Bây giờ nhiều tài năng trẻ trong nghề phở mới nhóm lên và trái lại, những danh vọng cũ trên kia không chắc còn giữ được "hương vị xứng kỳ danh" nữa. Có người nào thử chịu khó đi khảo nếm lại một lượt xem sao? Một vòng quanh Hà Nội bằng vị phở, chắc có lắm điều mặn, chát, chua, cay đấy.
Nhưng có một nơi phở rất ngon mà không có ai nghĩ đến và biết đến: ấy là gánh phở trong nhà thương. Trong nhà thương vốn có một bà bán các thứ quà bánh ở một gian hàng dựng dưới bóng cây. Cái quyền bán hàng đó là cái quyền riêng của nhà bà, có từ khi nhà thương mới lập. Bà là người ngoan đạo nên tuy ở địa vị đặc biệt đó bà cũng không bắt bí mọi người và ăn lãi quá đáng. Thức gì bán cũng ngon lành, giá cả phải chăng. Nhưng gánh phở của bà thì tuyệt: bát phở đầy đặn và tươm tất, do hai con gái bà làm, trông thực muốn ăn. Nước thì trong và lúc nào cũng nóng bỏng, khói lên nghi ngút. Rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một chút cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ. Mà nhân tâm tùy thích, nhà hàng đã khéo chiều: ai muốn ăn mỡ gầu, có, muốn ăn nạc, có, muốn ăn nửa mỡ, nửa nạc, cũng có sẵn sàng.
Cứ mỗi buổi sáng, từ sáu giờ cho đến bảy giờ, chỉ trong quảng ấy thôi, vì ngoài giờ gánh phở hết, chung quanh nồi nước phở, ta thấy tụm năm tụm ba, các bệnh nhân đàn ông và đàn bà, các bác gác san, các thầy y tá, và cả đến các học sinh trường Thuốc nữa. Chừng ấy người đều hợp lòng trong sự thưởng thức món quà ngon, nâng cách ăn phở lên đến một nghệ thuật đáng kính.
Cùng một thứ quà nước và mặn như phở, Hà Nội còn có hàng mì và mằn thắn. Hai món này chắc hẳn là món ăn của người Tàu, cho nên hễ người Tàu làm thì ngon hơn, cũng như họ làm ngon nhiều món khác.
Cái chí của Việt ta cũng khác: món quà bán thì cứ muốn bán cho rẻ và nhiều, thích thế để xiêu lòng khách còn cái phẩm có tốt hay không, không quan tâm đến. Cho nên bát mằn thắn của người mình thì có đủ cả rau thơm, xà xíu, đôi khi mấy miếng dồi, và một phần chia tám quả trứng vịt. Mằn thắn thì làm rất to bột, nặn xuề xòa để trông càng to hơn, nhưng nhân thì hết sức kín đáo và nhỏ bé, vì được một tí thịt chỗ bạc nhạc, mua rẻ của các hàng thịt lậu ôi ở ngoại ô, lúc trút hàng bán rẻ. Nước cũng rất nhiều nữa, dềnh lên như ao sau trận mưa, nhưng nhạt ví như nước bèo. Ấy thế mà tất cả chỉ bán có năm xu. Tưởng đắt hàng là phải.
Thế mà không: người Hà Nội ăn quà sành, nên khó mà lấy nhiều làm hoa mắt người ta được...

...

NHỮNG CHỐN ĂN CHƠI
Muốn biết rõ một thành phố, không cần phải biết những lâu đài mỹ thuật, những nhà bảo tàng, những tờ báo hay những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn mà dân thành phố ấy ăn chơi. Ăn và chơi, phải, đó là hai điều hành động mà trong ấy người ta tỏ rõ cái tâm tình, cái linh hồn mình một cách chân thực nhất.
Với lại đó không phải là hai cái hành động cốt yếu của đời ư? Trong sự ăn chơi, có cả dấu hiệu của dân thành thị, cả những tật xấu hay nết hay, những cái yếu hèn cũng những cái kiêu ngạo.
Biết ăn và biết chơi, không phải là dễ dàng như người ta tưởng. Và chính bởi từ xưa đến nay, sự ăn chơi ở nước ta bị khinh miệt, bị dè bỉu, nhưng người ta vẫn cứ phải chịu theo luật lệ chặt chẽ, nên cách ăn, chơi của người mình mới luộm thuộm, và cẩu thả, và tục tằn, rồi ngược lại, có một ảnh hưởng xấu xa đến tất cả cuộc đời, cả xã hội.
Ồ, nhưng mà từ nãy đến giờ tôi nói được những gì nhỉ? Thôi, vứt bỏ quách những lời bàn phiếm, những tư tưởng khó khăn ấy đi. Chúng ta hãy để ý quan sát bọn người ngồi ăn trong hiệu kia, nhận xét những cử chỉ, những nét mặt, và những tiếng cười của họ. Một cách cầm đũa, một cách đưa lên húp canh, bảo cho ta biết nhiều về một hạng người hơn là trăm pho sách. Và nhất là những thức mà họ ăn... Bảo cho tôi biết ăn gì, tôi sẽ nói anh là người thế nào.

Hà Nội là động tiên nga,
Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần,
Vui nhất là chợ Đồng Xuân.

Trước khi nói đến những nơi ăn chơi của Hà Nội, tưởng cũng như dạo qua chợ Đồng Xuân, cái "bụng" của thành phố, là nơi mà những vật liệu cần cho các cao lâu từ các vùng quê và ngoại ô đến. Ở đây, chúng ta được thấy các thực phẩm còn giữ nguyên hình trước khi biến thành những món xào nấu ngon lành dưới tay các đầu bếp nổi danh hay các bà nội trợ. Tất cả của ngon vật lạ các nơi đều đem đến đây, để hiến cho sự thưởng thức sành sỏi của người Hà Nội...

Kiến nghị

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH                CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HỘI TƯ VẤN KHCN & QL HASCON                          Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-------                                                       ------
Số:   15-032 /HTV

Kiến nghị Quốc Hội: chưa thông qua Chủ trương đầu tư Cảng Hàng không Quốc tế Long Thành, và yêu cầu Chủ đầu tư làm lại “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 06  năm 2015.
Kính gửi:  QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Hội Tư vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý TP. HCM HASCON xin gửi tới Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lời chào trân trọng.

Ngày 27 tháng 04  năm 2015, Hội Tư vấn HASCON đã trình Bộ Chính trị và Quốc hội Kiến nghị thứ nhất, số 15-024 /HTV: Kiến nghị Bộ Chính trị và Quốc hội chưa vội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư Cảng hàng không Quốc tế Long Thành, vì “Báo cáo Đầu tư dự án Cảng hàng không Quốc tế Long Thành” của Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (cũng gọi là “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi”) quá sơ sài, thiếu và sai sót ở những phần quan trọng nhất.  Kèm theo Kiến nghị là Bản “Tóm tắt những bất cập của Báo cáo đầu tư Dự án Cảng Hàng không Quốc tế Long Thành” với 7 điều bất cập:
1-  Những bất cập về pháp luật.
2- Xác đinh sai vai trò vị trí của Cảng Hàng không Quốc tế Long Thành trong  mục tiêu phát triển Đất Nước hiện nay.
3- Không có Thiết kế sơ bộ, dẫn đến những hậu quả nặng nề.
4- Lựa chọn phương án đầu tư sơ sài và không chính xác.
5- Tính toán sai Hiệu quả kinh tế xã hội.
6- Giải pháp huy động vốn hết sức mơ hồ.
7- Chưa xét đến những rủi ro tất yếu.
Ngày 7 tháng 5 năm 2015 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Thông báo Hội nghị lần thứ mười một, với 5 nội dung, nội dung thứ 4 là về Cảng Hàng không trung chuyển quốc tế Long Thành:
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục khẳng định sự cần thiết, đúng đắn của chủ trương đầu tư xây dựng Cảng Hàng không trung chuyển quốc tế Long Thành, coi đây là Dự án đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu, trong quá trình nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện Dự án, cần lưu ý tính toán lại và xác định rõ 9 vấn đề lớn của “Báo cáo Đầu tư Dự án Cảng hàng không Quốc tế Long Thành”
- Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu “Nghiêm túc lắng nghe và tiếp thu các ý kiến góp ý xác đáng và giải trình rõ những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, nhất là ý kiến phản biện của các tổ chức, cá nhân có trình độ chuyên môn về các lĩnh vực có liên quan đến Dự án. Bảo đảm tính công khai, minh bạch;

Thạc sĩ Việt Nam, buồn cười đéo tả! (Phần II)

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Trong Phần I của bài viết chúng tôi đã chỉ ra những sai sót nghiêm trọng của Nhóm soạn giả khi biên soạn bài thuyết minh về con trâu và cây lúa. Có bạn đọc sẽ nghĩ rằng: sinh học không phải là địa hạt của các Thạc sĩ văn học, bởi vậy, nhóm soạn giả khó tránh khỏi sai sót, chúng ta nên thông cảm. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Khả năng cảm nhận, phân tích, hành văn của Nhóm soạn giả cũng có nhiều điều đáng nói. Ví dụ bài thơ “Nhớ rừng”, đoạn con hổ hồi tưởng về những tháng ngày tự do:

“Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật
- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!”

Nhóm soạn giả đã phân tích như sau:
“Đó là những ngày mưa dữ dội như “chuyển bốn phương ngàn” làm núi rừng thay da đổi thịt mà con hổ lặng ngắm sự đổi thay của muôn vật trong niềm hân hoan phấn khởi. Đó là những ngày đầy nguy nan khi sống trong rừng bị con người truy sát, con hổ run sợ nép vào nơi bí mật đợi chết với cảm giác mặt trời chói gắt trên cao, thiêu đốt gan ruột mình. Tất cả những cảnh tượng ấy, mỗi cảnh tượng mang một vẻ riêng, có lúc thật rực rỡ huy hoàng, có khi êm đềm lãng mạn, có khi mạnh mẽ, dữ dội và có lúc đầy kinh hãi lo lắng nhưng đã làm nên cái quá khứ tự do huy hoàng oanh liệt của con hổ, là thủa con hổ được tung hoành làm chủ núi rừng trong sự vùng vẫy vô cùng khoáng đạt thênh thang.” (Đề 58-Bài “Nhớ rừng” tr.81-tập II)

Thạc sĩ Việt Nam, buồn cười đéo tả! (Phần I)

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Sách “Những bài tập làm văn mẫu lớp 8” của Nhóm tác giả: ThS Trương Thị Hằng - ThS Nguyễn Thị Tuyết Nhung - ThS Đào Thị Thủy - ThS Nguyễn Thị Dậu. Sách có 2 tập, tái bản lần 2, do NXB Văn hóa thông tin ấn hành quý II và III năm 2014. Trong “Lời nói đầu”, Nhóm tác giả cho biết: “Có thể nói, mục đích cao nhất của cuốn sách này là hướng tới làm sáng rõ các vấn đề văn chương trong chương trình Ngữ văn 8 và gợi ý cách thức làm các dạng bài tập làm văn cho các em. Trọng tâm vẫn là phương pháp làm bài. Đọc một bài văn mẫu là để tìm ra hướng giải quyết một bài làm nào đó hay cách làm các dạng bài tương tự.”

Theo chúng tôi, một bài “tập làm văn mẫu”, ngoài “mẫu” về phương pháp làm bài, chuẩn về kiến thức, thì câu từ, hành văn nếu chưa được gọi là hay cũng phải đảm bảo rõ ràng, mạch lạc, trong sáng. Tuy nhiên, có lẽ do chỉ chú trọng đến “phương pháp làm bài” nên Nhóm tác giả đã phạm không ít sai lầm về kiến thức phổ thông; hành văn lủng củng, từ ngữ thiếu chính xác. Sau đây là một số dẫn chứng của chúng tôi (phần gạch đầu dòng, chữ nghiêng trong ngoặc kép trích từ “Những bài tập làm văn mẫu 8”)

Đề 16: “Thuyết minh về con trâu trong công việc nhà nông.”

- Phần “Dàn bài” nhóm soạn giả viết: trâu có “thời gian mang thai 11 tháng.” (tr.58) Phần “Bài làm” (tr.59) lại viết: “Thời gian mang thai của trâu kéo dài 12 tháng.”
Chỉ trang trước, trang sau, cùng nói về thời gian mang thai của trâu nhưng hai số liệu chênh lệch nhau tới 1 tháng. Vậy các em học sinh biết tin vào đâu? Quan trọng hơn, cả hai thông tin này đều không chính xác. Bởi thời gian mang thai của trâu trong khoảng từ 10-11 tháng, tùy giống (giống trâu sông mang thai khoảng 305-307 ngày, trâu đầm lầy 320-325 ngày) Chưa thấy tài liệu nào nói trâu mang thai 12 tháng.

- “Trâu cái mỗi năm có thể đẻ một lần...”
Chuyện hoang đường! Trâu không thể đẻ mỗi năm một lần (lứa). Bởi trâu mang thai 10-11 tháng; 06 tháng sau khi đẻ, trâu mới động dục, giao phối trở lại (hiếm những con động dục sớm hơn). Một con trâu nái thuộc loại mắn đẻ cũng phải có thời gian 3 năm mới đẻ được hai lứa. Một đời trâu nái trung bình chỉ đẻ được từ 5-6 nghé. Các vị Thạc sĩ lầm bò ra trâu chăng? Vì thời gian mang thai của bò chỉ 280 ngày, sau khi đẻ 1 tháng, bò cái đã động dục trở lại và có thể đẻ mỗi năm một lứa. Thế nên tục ngữ dân tộc Tày mới có câu “Nuôi trâu còn chậm sinh sôi, nuôi bò đẻ mỗi năm một con” (Liệng vài nhẳng nàn viẻ, liệng mò mẻ pi tua). Nếu “trâu cái mang thai 12 tháng”“mỗi năm có thể đẻ một lần” như các soạn giả viết thì sau khi đẻ xong, trong vòng 24 tiếng đồng hồ, trâu mẹ đã phải giao phối ngay thì mới kịp! Tuy nhiên, trên trái đất này không sinh vật nào giao phối ngay sau khi đẻ xong và có khả năng sinh sản “mắn” đến như vậy.


Chuyện tình Hải hói

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Mới đầu năm tới giờ mà Hải hói đã kịp thời yêu đến 5 cô. Oái oăm lắm.

Cô đầu tiên tên Mèo Hoang, tít mạn vùng sâu Phú Thọ. Cô này mặt xinh thôi rồi, tóc tai lại kiểu cách, mỗi tội chân tay lại rất gân và thô. Đúng dạng chân tay khô. Trông rất chán. Bù lại mặt rất mướt. Nếu cắt hết đi chân tay, thì chẳng chê cô được gì cả.
Khi yêu Hải hói, cô vẫn cặp kè với một thằng trẻ hơn. Hải hói biết, nhưng hắn không quan tâm. Bởi theo hắn, gái bây giờ tuyền loại điệp viên nhị trùng cả. Thậm chí tam tứ ngũ trùng. Với lại, hắn thích những đồn có địch, thậm chí là nhiều địch. Thế mới hay!
Mèo Hoang yêu Hải hói theo kiểu công nhân viên chức lãnh lương tháng. Nếu tháng nào không lương thì phải quy thành hiện vật. Tỉ như váy xống, son môi, các cuộc chơi và những bữa chén. Tháng nhiều đến 37 củ. Ít cũng mất 1,000 đô. Được 2 tháng thì Hải hói cắt. Lý do đơn giản là chán và dùng nhiều mà lại không chịu khấu hao. Nhưng cái chính là cô này không khéo trong chuyện lấy của thằng miền xuôi để nuôi thằng miền ngược. Làm Hải hói giận. Thế là thôi.

Cô thứ hai tên Meo Meo, gái Hà thành phố cổ ngõ hẹp. Cô trẻ măng, mới sinh viên năm nhất của một trường mạn Mai Dịch văn công đầu buồi. Cô này đẹp thôi rồi. Một vẻ đẹp nai tơ, hoàn mỹ và thánh thiện. Đặc biệt hơn cả, là cô cao kém Mai Phương Thúy chỉ 2 phân. Đẹp là thế, nhưng cô nền nếp, chỉn chu, ngoan đến mức tẻ nhạt. Ngoài giờ học, cô hay về phụ giúp chị bán hàng cơm công sở, gần khách sạn Hải hói.
Cô chị Meo Meo cũng rất đẹp, tuy có thấp hơn Meo Meo tí chút. Vẻ đẹp của cô chị là vẻ đẹp của người đàn bà trưởng thành, nhiều mưu toan và tính toán. Quán cơm công sở của cô chị đông từ tinh mơ đến mịt mờ. Người ta đến ăn là một chuyện. Đến ngắm nghía rồi bình phẩm xuýt xoa lại là chuyện khác. Hải hói biết Meo Meo là ở quán cơm này. Nhưng để đến với sự ngây thơ kia, thì phải qua sự trưởng thành một nhát. Thế nên cứ hở tí là lại ra ngồi đồng, tỉ tê với cô chị. Lắm hôm còn bù khú với cả chồng cô ta.
Meo Meo không để ý đến Hải hói lắm, lẳng lặng làm phận sự. Chỉ những khi cô chị bảo ngồi chơi với Hải hói thì mới khép nép ghé mông. Mồm cắn móng tay tí tách. Trông yêu cực!
Cô chị Meo Meo cuối tuần hay tổ chức tiệc tùng ở quán. Tuyền người nhà. Bận nào Hải hói cũng được mời và luôn được chào đón và coi như người thân thiết. Những lúc vui vẻ thế, họ hay tạo điều kiện cho hắn ngồi cạnh Meo Meo. Phần họ, ra sức pha trò tán dương, chắp mối. Mà phần hăng hái nhất luôn là cô chị. Phải nói rằng, trong công cuộc tán gái của Hải hói, chưa cơ hội nào rộng mở và rõ rệt đến thế. Meo Meo cũng cởi mở hơn trong quan hệ. Bằng chứng là đã giả nhời tin nhắn, thi thoảng đi kem vặt, xem xi nê. Tất nhiên là cùng Hải hói.
Mọi thứ đang trên đà thuận lợi thì bọp phát Hải hói cũng cắt tiệt. Gặng hỏi mãi mới tiết lộ nguyên do. Chả là cô chị Meo Meo tỉ tê vay hắn 1 tỷ, đầu tư thêm quán mới, hứa hẹn giả nay mai. Nhưng mãi mà không thấy sự phít-bách. Thì chuyện đó đâu lấy gì là to nhớn. Vay thì phải trả thôi, không nay thì mai. Nhưng vấn đề không nằm ở chỗ đó. Mà là ở chỗ cô chị đem Meo Meo ra làm mồi câu. Không chỉ riêng hắn, mà còn nhiều con cá khác.
Ngu! Thế này thì mất cả chì lẫn mồi là thấy rõ. Nhưng thôi, kệ mẹ. May là vẫn còn... cái cần.

Hắn lại lao vào cô thứ ba. Cô này người Thanh miền núi. Đẹp không chỗ nào chê, trừ giọng nói. Nghe nặng nhọc, oái oăm và đau tai. Báo hại Hải hói mấy lần mắc vạ. Tỉ như bảo anh nghỉ đi thì cô lại bảo là nghĩ đi. Làm hắn phân vân đéo biết nghĩ cái gì. Hay như bảo chở về nhà ở ngã tư Sở, thì cô lại cứ Ngả Ngả Sỡ Sỡ. Làm hắn chả định được lối lang.
Tuy có những khiếm khuyết về thanh âm, nhưng bù lại cô rất chỉn chu, chăm chỉ. Công ăn việc làm lại ổn định. Hải hói rất lấy làm hài lòng và đã quỳ rạp cầu hôn mong chuyện trăm năm. Cô cũng nhận lời chân thành và cầu thị. Một bữa, hắn cùng cô về quê Thanh ra mắt và thăm nhà thăm cửa. Trở ra hắn cắt béng luôn, dù mới nói lời cầu hôn hôm trước. Hóa ra song thân cô kia mắc một chứng bịnh rất ác, phong cùi. Lâu rồi nên tay chân cụt ngủn. Hắn bảo bịnh này di truyền và có cơ chế lây, mặc mẹ khoa học rát họng bảo là chữa được. Vài đứa bạn đểu tư vấn, thì cứ coi song thân cô kia là thương binh kháng chiến rồi tiến hành đón dâu thì đã chết đéo ai. Hắn không chịu. Cắt là cắt.

Lao vào cô thứ tư. Cô này tên Sáo Sậu, người vùng than. Trắng lắm, ngọc ngà thua xa. Làn da trắng cộng với cặp môi hồng làm cô luôn đậm đà và quyến rũ. Cô đến với hắn khi đã kịp thời đá đít một thằng người yêu trẻ con bạc nhược. Tuy vậy, cô vẫn thật thà khoe là còn con gái. Làm hắn há hốc mồm lắc đầu quầy quậy không tin. Hắn luôn có một niềm tin mãnh liệt rằng, làm đéo gì có chuyện đó. Với hắn, yêu nhau mà không rên la là một sự viễn tưởng, bịa đặt và phi lý. Nhưng đời vẫn có những thứ vô lý thế. Như một hôm sau cơn say bét nhè của cô và hắn. Gay go là ở chỗ hắn không làm được gì vì mệt. Và cô kia mồm luôn lảm nhảm và thở ra thì chua lè. Nhiều lần, cô mời hắn về thăm nhà để gặp người lớn bàn chuyện mai sau. Hắn nhận lời và bao bận sắp đi thì con xe lại giở chứng, mặc dù là xe xịn.
Sau đêm say mà hắn không làm gì, cộng với sự lần khân thăm nom, mọi nhẽ, làm cô đổi ý. Cô quay lại với thằng người yêu trẻ nít, hiến đời con gái không suy tư. Kết quả, cô dính bầu và làm đám cưới. Hắn ngơ ngẩn mất mấy ngày, rồi chép miệng mà than rằng, tình non, duyên yểu.

Chán chường, hắn bập vào cô thứ năm, tên Mi Mi, gái Hà thành dốc Bác Cổ. Mi Mi đẹp thánh thiện mong manh như cô gì trong một phim của Đài Loan thời xa lắc. À phải, mùa thu lá bay. Hắn quen cô trong bữa tiệc ở một nhà hàng sang trọng và vật vã. Cô làm tổng quản lý ở đó. Cái vẻ đẹp mong manh dễ vỡ kia hút hồn hắn. Mà cũng không hẳn là vẻ đẹp kia, cái trên hết, theo hắn thú nhận là Mi Mi thông minh vui tính. Hắn có thể ngồi hàng giờ để nghe cô tâm tình chuyện đời. Nhiều chuyện rất nhố nhăng buồn cười, nhưng qua miệng cô thành nhân ái, nhân văn, thống thiết. Kể ra thế cũng tài.
Hai bên họ mạc gặp nhau vui tá lả. Coi như sự dạm ngõ uyên ương. Hải hói yêu chiều Mi Mi hơn em bé. Và xứng với những gì Mi Mi đáng được nhận. Chuyện tình ngày một nồng nàn, nồng nàn.
Bụp phát, lại phăng teo. Đéo mẹ, thật là sự lạ. Hải hói bơ phờ, bơ phờ. Hắn khóc rưng rức, kể lể. Hóa ra Mi Mi bịnh tim, giời ạ. Đâu như bị hẹp, mổ cũng đã được mấy năm. Bác sĩ bảo sau mươi, mười lăm năm lại phải mổ nhát nữa, để làm rộng cái van kia ra. Không là toi tắp lự. Nhưng hẵng là may phúc, chứ phải thay nguyên quả van nhân tạo thì còn nhọc nhằn hơn. Ừ thôi, bịnh tật thế cũng là sự thường, có sao đâu.
Nhưng oái oăm ở chỗ, hôm đẹp giời, chúng lên giường với nhau. Giời ạ, đang cao trào thì Mi Mi lăn quay bất động. Hải hói tá hỏa tam tinh vác viện cấp cứu. May còn kịp. Bác sĩ họ bảo, bịnh này, sướng quá cũng lăn quay, mà rầu rĩ quá cũng đi viện. Hết cả hồn.
Hắn bỏ tiền, thuê một bác sĩ tim. Chăm chú nghiêm túc nghe tư vấn nguyên ngày. Bịnh này, nếu lắp van giả thay van cơ học thì thọ kém, không đẻ đái được. Còn như cái sự rộng hẹp kia, thọ hơn tí và vẫn có thể có con. Nhưng là câu chuyện 50/50 thôi. Nghĩa là được mẹ thì mất con, được con thì mất mẹ. Còn như hoàn hảo 100% thì... mất hết. Thật là đau diều.

Mấy hôm nay, hắn rượu suốt. Cứ rượu xong là hắn khóc. Chẳng hiểu cho thân phận hay cho những người tình. Dù là cho ai, cũng thật là... kinh hãi.

Hải hói nhỉ?!

(Nguồn — www.photphet.info...)