Yêu rồi làm

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook



Một vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ. Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo:


- Thầy không biết yêu sao?

Vị ẩn sĩ trả lời:

- Chưa đến giờ đó thôi?


Câu chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị.



Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói:


- Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót!


***

Người thông luật hỏi Chúa Giêsu: "Ai là người thân cận của tôi?" Thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người Samari tốt lành: Một khách bộ hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ nằm nửa sống nửa chết bên lề đường. Trong khi hai thầy tư tế và Lê vi "tránh qua bên kia mà đi", thì người Samari ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà trọ săn sóc.


Chúa Giêsu hỏi lại người thông luật: "Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp?". Hỏi tức là trả lời. Và người thông luật đáp: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót". Chúa Giêsu bảo: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy" (Lc 10, 37).


Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samari nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là "yêu bằng việc làm". Yêu không chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì cả, mà yêu chính là "miệng nói tay làm", làm thực sự với hết khả năng của mình. Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông. Con đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn chúng ta đi hết con đường đó: "Hãy đi và làm như vậy". Pascal đã nói: "Khuyết tật lớn nhất của một người là phục vụ quá ít cho những kẻ họ yêu thương".


Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ.


Sở dĩ thầy tư tế và thầy Lê vi "tránh qua bên kia mà đi" là vì các thầy sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối phiền hà đến bản thân.

“Ngày tàn” của Facebook đang đến gần

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

“Ngày tàn” của Facebook đang đến gần
Kết quả hai cuộc khảo sát mới đây tại Mỹ cho thấy mạng xã hội lớn nhất thế giới Facebook đang mất dần sức hút đối với giới trẻ và cả người trưởng thành, một thực trạng mà ngay chính công ty Facebook cũng thừa nhận. Nhưng liệu đây có phải là dấu hiệu về “sự suy tàn” của Facebook?
Một cuộc khảo sát mới đây được tiến hành bởi Adam Ludwin, nhà phát triển người Mỹ đã tạo ứng dụng album ảnh cho mạng xã hội mang tên Albumatic, và được công bố trên trang tin Business Insider.
“Đa số thanh niên tham gia khảo sát cho rằng họ cảm thấy khó chịu khi ứng dụng Albumatic quá phụ thuộc vào Facebook. Và cũng như nhiều thiếu niên khác hiện nay, họ nói với tôi rằng đã chán ngấy Facebook”, ông Ludwin cho hay.
Nhiều người Mỹ tạm ngừng sử dụng Facebook vì nhiều lý do khác nhau


Cách đây ít tháng, trong bài blog gây xôn xao mang tên “Xu hướng công nghệ của học sinh lớp 10”, Josh Miller, CEO của công ty mạng xã hội đang lên Branch, cho rằng giới học sinh hiện nay say mê các ứng dụng như Snapchat hay Instagram hơn là Facebook.Miller cho rằng ngay cả ứng dụng gây tiếng vang một thời của Facebook là Facebook Chat cũng không còn sức cuốn hút, bởi theo như cô em gái 15 tuổi của anh ta thì, “Khi anh bật chương trình Facebook chat, những người anh không muốn gặp chính là những người nhảy vào đối thoại đầu tiên”.

Nhiều người dùng Facebook bắt đầu quan tâm đến vấn đề bảo mật thông tin cá nhân, sau khi họ phơi bày quá nhiều về đời sống hằng ngày của mình trên các trang mạng xã hội. Ngay cả Facebook cũng thừa nhận rằng mạng xã hội lớn nhất thế giới này đang gặp khó khăn trong việc thu hút giới trẻ. Báo cáo thường niên của công ty vừa được công bố hôm 1.1.2013 nhận định rằng, một số người sử dụng, đặc biệt là giới trẻ, đã bắt đầu chuyển sang sử dụng các mạng xã hội khác có tính năng tương tự để thay thế cho Facebook, chẳng hạn như Instagram.

Giới trẻ “chán” Facebook, vì sao?
Việc giới trẻ không còn mặn mà với Facebook rõ ràng là một tín hiệu đáng lo đối với mạng xã hội này, bởi sự lựa chọn của nhóm tuổi này là yếu tố quan trọng, quyết định xu hướng của thị trường, như chính trường hợp của Facebook vài năm trước đây, Business Insider dẫn lời các chuyên gia.

Putin xử lý vụ Snowden quá cao tay

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Báo Trung Quốc: Putin xử lý vụ Snowden quá cao tay
Biến phiền phức tai bay vạ gió thành con bài để mặc cả với Mỹ, chuyển gánh nặng thành cơ hội quốc gia.
Bài viết được đăng tại mục Quan điểm Trung Quốc, thuộc báo Mạng Trung Quốc. Thành lập từ năm 2000, tờ báo hiện đang đăng tin bằng 11 ngôn ngữ. Đây là website thời sự trọng điểm quốc gia, được quản lý bởi Cục phân phối và phát hành xuất bản ngoại văn Trung Quốc và Văn phòng Thời sự Quốc vụ viện Trung Quốc.
Sự kiện Snowden hiện đang đi vào giai đoạn chuyển biến mới. Việc chàng thanh niên Mỹ đang mắc kẹt tại thủ đô Nga sẽ đến Venezuela như thế nào đang là một câu hỏi lớn.
Cho đến nay, cách thức Nga xử lý sự kiện Snowden đã thể hiện kỹ năng ngoại giao tuyệt vời, dày dặn và tinh tế của đất nước này. Rõ ràng, Nga đã giữ cân bằng được ba sợi dây: một là tôn trọng tính chất đúng sai riêng của sự việc, hai là tuân thủ đúng luật quốc gia và luật quốc tế, ba là tránh gây trầm trọng thêm cho quan hệ Nga – Mỹ.

Lấy ba điều trên làm tiền đề, Nga đã có những hành động vừa phù hợp với sự đồng tình của quốc tế dành cho Snowden, vừa không gạt bỏ tính chất phản bội của Snowden với nước Mỹ. Chính phủ Nga đã từ chối dẫn độ, cũng không cung cấp nơi trú ẩn một cách vô điều kiện mà đã khéo léo sử dụng tới khu trung chuyển quốc tế ở sân bay Moscow.
“Đây là một đối tác chiến lược rất đáng ngưỡng mộ, Trung Quốc có thể học hỏi được rất nhiều điều.”

Các bước giải quyết vụ việc rất cẩn mật, nghiêm ngặt và không để lại cho bên Mỹ bất cứ cớ gì để đả kích hoặc trả thù.

Tổng thống Putin đích thân công khai những thông tin mấu chốt trong vụ phóng thích, xác nhận “người tự do” Snowden đã ở khu trung chuyển sân bay Moscow và nói rõ rằng chính phủ Nga “sẽ không giao Snowden cho Mỹ” và “chỉ khi Snowden dừng các hành động gây hại cho lợi ích nước Mỹ, Nga mới cho phép anh ta tị nạn chính trị”.

Lời phát biểu của Putin không chỉ làm ổn định dư luận tại Mỹ cùng những phán đoán ác ý dành cho Nga từ các phương tiện truyền thông quốc tế, mà còn sớm xóa bỏ được những hiểu nhầm Mỹ và Snowden gây ra cho Nga, từ đó kịp thời làm giảm áp lực cho nước mình.
Loạt quyết sách này rất phù hợp với tác phong của Putin. Cái cao tay nhất là có thể biến phiền phức tai bay vạ gió thành con bài để mặc cả với Mỹ, chuyển gánh nặng thành cơ hội quốc gia. Nga đã trở thành người chiến thắng trong vụ Snowden.

Bấy lâu nay Nga luôn là mục tiêu nghe ngóng của Mỹ và các nước phương Tây. Về mặt an ninh mạng và các vấn đề tự do, Nga cũng phải gánh chịu áp lực chính trị nặng nề từ Mỹ và các nước phương Tây. Riêng lần này, sự bị động của Mỹ do Snowden gây ra có thể đem lại những lợi ích để Nga khai thác.

Lập Trình Viên II (55)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Và trong số những người ấy, những người không có đạn lửa, không có đạn thường, không có súng, nhưng "sẽ chặn xe bọc thép lại", có anh Kốt-xchi-a tôi, một trong những sinh viên xuất sắc nhất của một trường đại học lớn nhất nhì đất nước.

Trời mưa và không khí ẩm ướt làm cho ánh đèn — chủ yếu là đèn đường — bị ngắn lại và ít nhiều giống như những nét bút lông vẽ màu nước nhưng hơi nhiều nước quá, mặt đường và những bề mặt khác hướng lên giời đều ướt sũng, nên khung cảnh tối lèm nhèm, lại còn lấp loáng.
Đường hầm Trai-kốp-xki, đoạn "có nóc", dài khoảng gấp hơn ba lần chiều rộng của đại lộ Ka-li-nhin (tám luồng xe) chạy trên đầu; đường hầm phân làm hai chiều, mỗi chiều ba luồng xe, được ngăn cách nhau ở giữa bằng một hàng những cột bê tông vuông; dọc các góc tường phía trên, ở hai bên mỗi luồng, đều chạy một dãy bóng đèn hắt ra ánh sáng vàng vọt, chắc là yếu, trong mắt những người lái xe qua đây ban đêm.
Nhưng xe bọc thép thì không phải loại xe vẫn thường chạy qua đây.
Sau khi tránh mấy chiếc xe bồn một cách không mấy khó khăn, những người lính lái xe bọc thép (theo hình dung của tôi), ngồi trong hộp sắt kín, nhìn đường qua thiết bị kính quang học, lúc này chắc là đang có một cảm giác thoải mái, và nhất là yên lòng, — trong bối cảnh mà chẳng ai ngờ và chẳng ai muốn, và họ có khi là chẳng ngờ chẳng muốn hơn cả này, có lẽ họ đang mong, và tương đối tin, là mọi việc rồi sẽ diễn ra một cách bình thường, giống như chiếc xe bọc thép, dưới sự điều khiển thuần thục của họ, đang êm ả lướt qua đường hầm sáng đèn ngay bên dưới đại lộ này, hoàn toàn không có gì khác nhiều lắm so với vô số những lần tập trận, hành quân khác; vì cứ dựa vào địa thế mà xét, nhất lại là theo cách nhìn nhận của những người đã được tập đánh trận bằng súng thật đạn thật hẳn hoi, nếu thật sự muốn chặn họ lại, thì chỗ đường trong hầm này có thể nói là đắc địa nhất, nhưng mà đường ở đây lại thông, hoàn toàn thông.
Chẳng biết họ có hình dung không, là mình đang đi qua mắt của cơn bão, — những gì mà họ gặp phải khi đã ra khỏi đường hầm dưới đại lộ, và ngoi lên đã tới gần mặt phố rồi, mới là gió giật cấp cao, và thật sự là một cơn ác mộng.
Mặc dù không thể tự chạy khỏe được bằng một đàn ngựa sáu, bảy ngàn con, như đoàn xe bọc thép, nhưng về cân nặng mà nói, đống sắt này lại tuyệt không thua sút. Nếu tôi nhớ không sai, thì ở trong sách giáo khoa từng có một bài toán: "Một chiếc tờ-ra-lây-bút khối lượng 11 tấn chuyển động đều với vận tốc 36 km/h, em hãy tìm lực...", nếu đúng như vậy thật, thì đống sắt thép đang nằm án ngữ không cho xe tăng lên khỏi Đường hầm Trai-kốp-xki này, tính sơ sơ cũng thừa sức trên dưới hai trăm rưởi tấn sắt.
Cộng với những gì mà từ hôm qua trí nhớ của tôi đã tự động lưu lại và xếp vào chỗ nổi bật, nếu tôi ra đời sớm (hoặc chuyện này xảy ra muộn) độ bảy, tám năm, và nếu tôi, trong khoảng thời gian giả định có được đó, đã kịp trở thành một nghệ sĩ... (loại nghệ sĩ sáng tác, bất kể là lĩnh vực nào) nổi tiếng, thì thể nào tôi cũng đưa chiếc xe điện bánh hơi tờ-ra-lây-bút lên thành biểu tượng để đời về lòng yêu chính phủ của người Mát-xcơ-va nói riêng, và người Nga nói chung, — trên hai chục chiếc tờ-ra-lây-bút đã được dồn thành một đống to, chiều dày trung bình phải đến ba hàng xe chắn ngang đường, có lẽ đang lập thành cái chiến lũy to nhất hiện có trong toàn thành phố vào lúc này, mà có khi cũng là cái to nhất trong cả lịch sử thành phố, ai biết.
Nhiều người, cả Phi Long trước đây, vẫn nghĩ rằng hệ thống tàu điện ngầm ở Mát-xcơ-va là to nhất thế giới, nhưng thực ra hệ thống này dù đúng là nhất thế giới thật, nhưng chỉ là đẹp đẽ và giàu tính nghệ thuật nhất thôi, còn nói về tổng độ dài đường ray, số lượng ga tàu, cường độ sử dụng... thì hình như nó còn phải so với vài hệ thống khác, như ở Xơ-un, Tô-ki-ô, Niu Oóc, nhưng cụ thể hơn kém cái nào cái gì, thì tôi không nhớ chi tiết.
Còn hệ thống ở Mát-xcơ-va mà có lẽ là nhiều người, cả Phi Long trước đây, không hề nghĩ là to nhất thế giới, nhưng thật sự lại to nhất thế giới, chính là hệ thống xe điện bánh hơi tờ-ra-lây-bút.
Gần hai ngàn chiếc tờ-ra-lây-bút, như những chú mèo vuông vắn hiền lành, với bộ lông màu trắng có viền — hình như nhiều nhất là — xanh da trời (còn xe buýt sơn màu vàng bí ngô thì trông giống chó hơn mèo), ngày nào cũng như ngày nào, nắng cũng như mưa hay tuyết, cần mẫn đón đưa một lượng lớn trong số gần chục triệu cư dân Thủ Đô đi làm, đi chơi, đi về. Chính những chiếc xe vốn chỉ quen siêng năng giúp đỡ mọi người đó, giờ đây đang nằm (vẫn) hiền lành phơi sườn ra, kiên nhẫn chờ đợi và sẵn sàng hứng chịu những cú đánh thô bạo của những chiếc (dù cũng là) xe khác, (nhưng) được làm ra chuyên để đánh nhau, chuyên để đâm, đè, húc... — ngoài chuyện tự giơ mình ra chịu đòn, thì những chú mèo dũng cảm này đúng là cũng chả còn biết phải làm cách nào khác nữa.
Đánh kẻ chỉ biết chịu đòn thụ động như thế dường như lại hoàn toàn không phải một việc dễ làm, — chiếc "đâm — đè — húc" đi đầu đã dừng lại.
Và cả đoàn "đâm — đè — húc" răm rắp dừng theo, nên có thể nghĩ là từ đầu tới giờ thực ra chỉ có chiếc đầu tiên là chạy, còn bọn phía sau thì bị kéo theo, như một đoàn tàu.
Các xe bọc thép dừng lại, thì các "dân vệ" và dân thường tiếp cận chúng ngay; nhiều người quây lấy (chủ yếu là) mấy chiếc xe ở đầu đoàn, và bắt đầu nói chuyện với những người lính đang thò thêm ra khỏi xe, — đại loại cũng như ở đầu dốc, chỗ chú Xê-rô-ga gày ngày hôm qua, có điều không khí trao đổi ở đây, bối cảnh đương nhiên có phần bất ổn hơn.
Đa số mọi người đứng quanh xe bọc thép, và bảo bộ đội dừng lại, đừng đi tiếp nữa; bộ đội thì chủ yếu nghe là chính, một hai người đáp lại ngắn gọn "Chúng tôi làm theo lệnh". Nhưng dân thành phố cũng có những người đã quá khích hơn, hét lên "Chúng mày định bắn vào ai đây?", hoặc tìm cách trèo lên xe; bộ đội có người bảo "Chúng tôi không bắn giết ai cả", người khác thì với thái độ rất cương quyết, bảo, rồi quát những người định trèo lên xe.
Nhốn nháo như vậy được một lát, thì bộ đội đồng loạt thụt hết vào trong xe và đóng hết các nắp lại, kín mít; rồi những chiếc xe đồng loạt nổ máy ầm lên. Động thái như vậy thì rõ là đoạn tuyệt và hăm dọa rồi, nhưng những người đang vây quanh các xe cũng chả chạy đi, chỉ giãn bớt ra, và chuẩn bị sẵn tinh thần cũng như thân thủ để tránh xe.
"Phẹt phẹt... phẹt phẹt...", tiếng máy rít lên không tải; rồi "grù..!", nó rú lên, và lẫn trong thứ âm thanh cưng cứng và nặng nề đó, có thể phân biệt rất rõ những tiếng ken két của sắt cọ vào nhau, loại sắt nặng, chắc là do một cơ chế giảm xóc nào đó của xe xích sắt, hoặc chính là tiếng xích sắt, — chiếc xe ở đầu hàng đã tăng tốc và lao thẳng vào sườn chiếc tờ-ra-lây-bút trước mặt nó.
Từ phía sau, có những chiếc xe khác theo nhau tách ra, — bộ đội bắt đầu triển khai đội hình thành hai hàng xe để đột phá chiến lũy.
Đây có thể là cấp trên đã ra lệnh qua điện đàm, cũng có thể là quyết định của người chỉ huy "tại trận" ở đây, — dẫn một lúc mười mấy chiếc bọc thép đi, chắc cũng phải cỡ chỉ huy tiểu đoàn, giống (nhưng lại rất không giống) như chú Xê-rô-ga gày bạn tôi, vả lại ở đây cũng không gặp ông En-txin được.
— Đi đâu, con mẹ chúng mày!..
— Quân giết người! Quân giết người! Quân giết người!..
— Cút mẹ mày đi đánh nhau... Cút đi!..
— Làm gì vậy!.. Đứng lại!..
— Bất hạnh cho nước Nga!..
Đám đông bắt đầu la hét, đơn lẻ và đồng thanh; việc xe bọc thép, bất chấp sự can gián ôn tồn của mọi người, đã đâm xe tờ-ra-lây-bút một cách không hề thương tiếc, quả thật đã khiến nhiều người nổi giận, — xe và người ngay lập tức trở thành một đám đầy hỗn loạn, xe thì gầm gừ, lùi lại lấy đà, chỉnh hướng, để đâm vào tờ-ra-lây-bút, người thì ai vớ được ở gần mình những thứ gì cứng và có thể dùng để ném được đều lấy hết sức ném nó vào xe.
Ném hết những gì có thể ném, thì có những người đã kiếm đâu được — chắc vác từ những chỗ xa hơn tới — những thanh gỗ, thanh sắt, tương đối dài, và loay hoay nhảy tới nhảy lui ở bên cạnh, phía gần mũi xe bọc thép, tìm cách lùa những thanh đó vào bánh xích của nó. Rồi có một người, lỉnh kỉnh như một phóng viên, sau nhiều nỗ lực, đã tìm cách phủ được một tấm vải mưa rộng lên chỗ mà theo quan điểm của chú ấy, chính là kính quan sát của lái xe, — thành công rồi, thì chú kêu gọi mọi người cùng làm thế.
Lúc này thì hàng xe bọc thép thứ hai đã dâng lên ở luồng bên trái, và cũng bắt đầu lấy đà rồi đâm vào xe tờ-ra-lây-bút. Cứ mỗi phát bọc thép đâm, thì hàng xe tờ-ra-lây-bút lại bị xê dịch, và căn bản là xiên xẹo, đi một chút.
Bắt đầu hình dung được là ngoài việc để mặc cho các xe tờ-ra-lây-bút chịu trận đến chừng nào còn có thể chịu được, thì con người, dù là đông thế nào, cũng khó có thể dừng được xe bọc thép lại bằng những cách ném đá, chọc gậy, nên những người trẻ, hăng hái và có thân thể khỏe mạnh nhanh nhẹn, bắt đầu hè nhau theo gương chú phóng viên, tìm cách "bịt mắt" các xe bọc thép, nhiều người đã trèo được lên xe, tìm cách phủ lên đó những tấm vải to, rồi ngồi luôn lại, nên là xe bọc thép cứ chở nguyên cả những người đang ngất ngưởng bên trên như thế mà xông vào đâm xe tờ-ra-lây-bút.
Những người khác thì ùa vào, dạt ra, nhảy nhót, la hét náo loạn.
Không biết có giống như cầu thủ dự bị, khi được tung vào sân thì thường nhắng nhít hẳn hơn, hay không, nhưng đám xe bọc thép ở hàng bên trái rõ ràng đã biểu lộ một sự hung hăng thái quá so với đồng bọn phía bên kia. Có điều sau một hồi hùng hùng hổ hổ lồng ra lồng vào, đâm, húc một cách dữ tợn, chả hiểu thế nào, tất cả bọn chúng sau cùng lại nằm ì hết ra, máy vẫn nổ, lúc lúc còn nẹt ống bô phành phạch, nhưng tóm lại là đành phải án binh bất động, — xe số 601 nằm im không thể tiến hay lùi gì được, nghiêng nghiêng như bị sa hố, xe 602 một bên xích sắt bị đứt tởi hết ra mặt đường nhựa, xe 535 bị kẹt cứng giữa một đám tờ-ra-lây-bút, và những chiếc bọc thép này tự trở thành một phần của chiến lũy, khiến cho những chiếc phía sau chẳng có đường lên.
Bên cánh phải, chiếc xe tờ-ra-lây-bút xịt lốp — do "tự vệ" chủ ý xịt — mà đã hứng lấy phát công kích đầu tiên, vì nằm quay đầu sang trái nên bây giờ sườn xe bên trái, mạn đuôi, đã bị toang hoác cả, phơi hết nội thất và bốn tấm cửa dọc, trong khoang cửa lên xuống ở sườn bên kia, ra dưới ánh đèn xe bọc thép. Chẳng biết do cấu trúc chiến lũy, hay do trình độ của lái xe, hay do có chỉ huy ở đấy, có thể do cả ba, nhưng chiếc xe bọc thép đầu đàn ban nãy, đã khôn khéo tạo được ra trên thân chiến lũy phía ấy một ranh giới mỏng manh, — chỉ còn duy nhất một chiếc tờ-ra-lây-bút nằm xiên xiên, ngăn cách chiếc xe bọc thép số 621 này với đường phố "tự do" bên kia.
Cũng nhờ hành động xô đẩy chiến lũy có kết quả, nên khoảng trống để xoay trở của chiếc xe bọc thép này cũng tương đối thoải mái, và lần này, giật lùi tách ra khỏi chiến lũy, nó có thể lấy được một đà dài.
Máy gầm lên, chiếc xe tăng tốc, đầu xe hơi bốc lên — thực ra là ngóc cao hơn lên, chắc nhờ giảm xóc phía sau nhún mạnh xuống, chứ xích xe thì không "bốc" khỏi mặt đường được, — và xe chồm vào chiến lũy.
Sắt quân sự đâm vào sắt dân dụng, có vẻ cũng không khác mấy so với dao chặt vào miếng thịt, bất quá là miếng gân, — âm thanh va chạm nhỏ hơn tiếng máy xe nhiều, nên hầu như không nghe thấy; — khuôn cửa kính tờ-ra-lây-bút, cạnh chỗ người lái ngồi, văng ra nguyên vẹn, tách ra thành mấy miếng trong không khí, rồi vung xuống mặt đường, trông cũng như phim câm; chiếc xe bọc thép đã gí mũi vào chiến lũy rồi, còn cố mượn đà ủi thêm được một ít; trong lúc ấy có một chú thư sinh lẻo khoẻo đeo kính cận khệ nệ ôm một thanh sáng màu, dài chỉ hơn một mét nhưng hình dạng tương đối to, xông tới và vội vã tống thẳng nó vào vòng xích xe, nhưng thanh này bị văng ngay ra, theo tiếng bưng bưng phát ra khi nó va đập xuống mặt đường, thì đấy là một thanh kim loại.
Chiếc tờ-ra-lây-bút "viên gạch cuối cùng" bị xiên xẹo thêm, và bị dịch chuyển đi phải đến dăm mét; đã nhìn thấy đường phố phía bên kia qua khoảng hở mới hình thành trên thân chiến lũy, — chỉ cần đâm thêm cú nữa, là "Cả con đường ấy muốn sao mặc mình" ngay.
Mặc định, rất nhiều ánh mắt đều hướng về chỗ đó và đợi cú đâm quyết định, với cùng một cảm giác bất lực như nhau.
Nhưng mọi người đang chờ chuyển động của xe bọc thép, thì tự nhiên, chiếc tờ-ra-lây-bút "viên gạch cuối cùng" lại từ từ xê dịch, theo hướng ngược lại với hướng mà nó, hoàn toàn không theo nguyện vọng của chính mình, mới bị đẩy đi; và nó gần như đã trở về chỗ cũ, — trong lúc xe bọc thép 621 đang lấy đà, thì từ Ngõ Pra-tốt-trờ-nưi ở ngay bên phải chỗ đường hầm lên tới mặt đường, có một chiếc xe cần cẩu xuất kỳ bất ý chạy ra, và vội vàng tìm cách đẩy chiếc tờ-ra-lây-bút "lấp" lại chỗ hở trên thân chiến lũy.
Có nhiều người reo lên.
Chiếc xe cần cẩu này, buồng lái cũng giống màu xe bọc thép, có thể sẫm và mới hơn một chút, cần cẩu và buồng điều khiển cần cẩu thì sơn màu vàng công nghiệp, xe đang nghỉ ngơi, cần cẩu đã được hạ xuống, còn cái móc câu to nặng lủng lẳng ở đầu cần thì bị dây sắt vít cheo chéo về phía ba-đờ-sốc. Chỉ tiếc, là trong hàng xe cẩu, thì nó không phải loại to lắm, và không có bánh xích.
Vả lại những kỹ năng lao động mà nó vốn thuần thục, dễ hiểu là sẽ không mấy hữu hiệu nếu phải mang ra để đánh nhau, — công nhân dù là to khỏe, đánh nhau nói chung cũng khó địch lại bộ đội.
Nếu nó cứ tiện đà dấn luôn vào, xoay mình và nằm ì luôn ra sát ngay đằng sau chiếc tờ-ra-lây-bút mà nó vừa đẩy vào chiến lũy, có lẽ mọi sự ít nhiều sẽ khả dĩ hơn; nhưng chắc là, như một người công nhân lành nghề và chu đáo, nó cũng lùi lại một ít để lấy đà, muốn sửa sang hoàn thiện phần việc của mình; và ngay lúc đó, thì chiếc xe bọc thép đã lại lao vào chiến lũy.
Lần này nó lao còn mạnh hơn lần trước, có thể một phần vì tức giận, — thấy chiếc tờ-ra-lây-bút bị đẩy trở lại. Vẫn không nghe rõ âm thanh va chạm, nhưng chiếc tờ-ra-lây-bút sau cú đâm này bị dịch chuyển và xoay chệch đi đến mức mở ra đủ một thông lộ trên thân chiến lũy. Chiếc 621 lùi ngay lại một chút, rồ máy "khẹt khẹt..." như khịt mũi, lắc mình nhẹ một cái theo kiểu xoay tại chỗ của xe bánh xích, và nhẹ nhàng vượt thoát ngay ra khỏi chiến lũy, — nếu như đây là trong Chiến tranh Vệ quốc, hẳn có nhiều người sẽ trầm trồ tán thưởng sự tài giỏi của bộ đội xe tăng của chúng ta, có điều đây lại là một cuộc chiến hoàn toàn khác, trong đó đại từ "chúng ta" nhiều lúc thật sự không biết phải sử dụng như thế nào cho đúng.
Không ai trầm trồ tán thưởng, nhưng có những tiếng hét lên, chủ yếu là tiếng thanh niên chửi, và có những vật được ném theo chiếc thiết giáp đang "hoàn thành tốt nhiệm vụ" kia, — toàn thứ vớ vẩn kiểu như lon nước ngọt đang cầm ở tay, và ném theo cơ chế bộc phát, để cho đỡ tức, thế thôi. "Dân vệ", đại khái xúc cảm sẽ nhiều hơn kỹ năng, chuyện này không khó hình dung; nên trong khi cơn bực bội của họ còn chưa kịp qua đi thì "Đầu xuôi đuôi lọt", "grừ... ù u ù u... lạch xạch lạch xạch...", chiếc bọc thép thứ hai đã ngay lập tức theo đuôi chiếc đầu đàn lướt nhanh qua đột phá khẩu một cách tương đối trơn tru. Lần này thì ngay cả những thứ vớ vẩn cũng chả ai buồn ném theo, hay là chửi nó nữa, — đà này, e là "Cả con đường ấy muốn sao mặc mình" sắp trở thành "Cả con đường ấy muốn sao mặc chúng mình" đến nơi, và đã gọi là đánh nhau, còn đánh đến toang hoang cả xe cộ ra rồi, thì không có chuyện cả hai bên đều hoàn thành nhiệm vụ.
Nhưng "dân vệ" không chịu để thua một cách đơn giản như thế.
Tất nhiên có nhiều người, có khi là đa số, đã tới đây với tâm lý mặc định là ví phỏng chặn được quân đội thì tốt quá, còn không thì cũng là chuyện hết sức bình thường dễ hiểu thôi, chẳng có gì phải nặng nề, hay nghiêm trọng cả, bất quá chửi to vài câu để khẳng định thái độ, là xong, — một trạng thái vãng lai của ý thức. Tuy nhiên không phải ai cũng đều thế, — cứ từ đội của anh Kốt-xchi-a mà suy, thì trong đám đông này, hẳn nhiên phải có những cựu quân nhân; như chú chỉ huy đeo chiếc đồng hồ kim loại to và sáng lấp lánh, biết đâu lại mới trở về từ Áp-ga-nít-xtăng cũng nên; mà ngay cả chưa từng tham chiến, thì những người đã qua nghĩa vụ quân sự có khi cũng còn thuộc hàng đàn anh của (đa phần) đám bộ đội đang ngồi trong xe tăng; với những cựu quân nhân này mà nói, thì tất cả những gì đang xảy ra ở đây sẽ được nhìn nhận bằng một con mắt khác, hoàn toàn không phải là chuyện muốn ra sao thì ra, mà là một việc phải được làm tới cùng, việc của chính mình, rất thật, rất cụ thể.

(Còn nữa)

Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 3):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 2):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 1):
Truyện "LẬP TRÌNH VIÊN" (Phần I — Đầy đủ):

Bộ Giáo Dục đem Mẹ Việt Nam Anh Hùng ra làm trò cười

6 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Bộ GDĐT vừa ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung đối tượng ưu tiên của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy. Cụ thể, trong 7 đối tượng được bổ sung diện ưu tiên 03 có các đối tượng: Bà mẹ Việt Nam anh hùng; người hoạt động cách mạng trước ngày 1/1/1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 1/1/1945 đến ngày khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.

Thêm một thông tư được ban hành với những quy định mà dư luận không hiểu những người biên soạn có để tâm đến công việc, hay chỉ là những cái máy. Nói là máy móc bởi vì những quy định của thông tư này căn cứ vào quy định của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP, ngày 9 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ về việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng. Người ta đã “bê” nguyên xi, “rập khuôn” các quy định, nhưng không suy nghĩ đến khả năng thụ hưởng chính sách của đối tượng.

Với bà mẹ Việt Nam anh hùng hay những người tham gia cách mạng trước năm 1945 cho đến tháng 8/1945 có nhiều nhu cầu được hỗ trợ trong đời sống, sinh hoạt, chăm sóc y tế, nhưng chắc chắn không ai có nhu cầu thi đại học.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng phần lớn tuổi đã quá cao, già yếu, bệnh tật, làm sao có thể đi thi đại học. Trước khi ban hành thông tư này, Bộ GDĐT chỉ cần làm một động tác nhỏ, đó là tìm hiểu xem hiện nay có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống, tuổi thấp nhất là bao nhiêu và xem có bà mẹ nào học hết cấp 3, các mẹ có nhu cầu đi thi đại học hay không.

Tương tự như vậy, có thể kiểm tra thông tin để biết có bao nhiêu người hoạt động cách mạng từ trước năm 1945 đến tháng 8.1945 còn sống, tuổi thấp nhất là bao nhiêu, có nhu cầu và khả năng thi đại học hay không. Nếu tính nhẩm thôi, sớm nhất cũng 15-17 tuổi họ mới đi làm cách mạng, thì tính tới mùa thi năm 2014 — khi quy định ưu tiên của thông tư được áp dụng, thì người còn sống cũng khoảng 90 tuổi trở lên. Với tuổi tác này, đi đứng còn khó nhọc, nói chi đi thi đại học.

Các quy định vừa phân tích trên mặc dù phù hợp với Nghị định số 31, nhưng bất hợp lý khi áp dụng vào đời sống, không khoa học vì thiếu tính thực tiễn, thậm chí có phần không nghiêm túc trong một quy định tỏ ra rất nghiêm túc. Đưa bà mẹ Việt Nam anh hùng và những người làm cách mạng tuổi đến khoảng 100 vào đối tượng đi thi đại học để cộng 2 điểm ưu tiên thì quả thực rất không nghiêm túc.

(Nguồn: Lao Động)

Với người Hà Nội thì lại phải tìm hiểu thôi

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

VỚI NGƯỜI HÀ NỘI THÌ LẠI PHẢI TÌM HIỂU THÔI
(Anh hùng Sùng Dúng Lù)

Cây trúc Vần Chải sống chen với đá, nhưng mọc lên thì thẳng tắp.
Cây to bổ đôi đem lợp mái nhà, bền hơn gỗ pơ-mu.
Cây nhỏ làm cần câu, bán cũng được tiền.
Về Hà Nội mình đã thấy cây trúc như thế, nhưng là khóm nhỏ đem trồng trong chậu, trông cằn cỗi nhưng người Hà Nội lại trầm trồ khen gọi là trúc quân tử.
Nếu họ trông thấy trúc Vần Chải của mình thì họ sẽ bảo sao nhỉ?..

Có lần, người Hà Nội lên Phó Bảng, ra chợ gặp hai ông già người Mông mắng nhau: "Mắt mày xấu, mày nhìn cái gì cũng xấu!", thì người Hà Nội reo lên: "Giỏi quá! Đó là triết học, cao siêu lắm, thâm thúy lắm!"
Mình chẳng thấy có gì lạ cả. Cái lý ấy người Mông mình vẫn nói với nhau hằng ngày đấy thôi.

Mình biết thổi khèn từ bé, tiếng khèn vi vút vui tai để đi đường đỡ thấy xa, chỉ thế thôi.
Nhưng người Hà Nội lại bảo trong tiếng khèn mình có thác rơi gió thổi, có tiếng của chim họa mi, có lời thủ thỉ tâm tình của rừng đại ngàn.
Sao mình thổi mãi mà không thấy gì. Chẳng nhẽ người Hà Nội lại tài nghe hơn mình?..

Cây chè ở miền núi ở đâu chẳng có. Vậy mà, chỉ có người Hà Nội mới biết đâu là chè ngon.
Họ phân biệt được đâu là chè Tân Cương đâu là chè Phú Thọ; chè La Bằng thì ngon ở chỗ nào, biết chè nào là quí nhất.
Họ còn thóc mách biết đến cả hai ngàn gốc chè shan ở Lũng Phìn, bốn mùa sống trong sương mù, cho thứ chè thơm mát như đồ uống của thần tiên.
Thế mà người Đồng Văn mình uống chè Lũng Phìn, chỉ thấy như uống nước thường mà thôi.

Hồi còn trẻ làm dân quân tiễu phỉ, mình tay không chui vào hang núi gọi phỉ ra đầu thú, có gì khó lắm đâu, bởi thằng phỉ ấy cũng là người cùng bản.

Nữ gián điệp Nga: Snowden, anh sẽ cưới em chứ?!

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


— Xnâu-đân, anh sẽ cưới em chứ?!
— Giá tôi cưới được Cháp-man bất chấp mọi thứ khác. Chết thật, nhìn cô ấy mà xem.

Nguồn:

Edward Snowden: Giơ tay phát biểu từ sân bay Mát-xcơ-va

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Một tuần trước tôi đã rời Hồng Kông sau khi chuyện đã trở nên rõ ràng là tự do và sự an toàn của tôi đang ở dưới sự đe dọa vì việc tiết lộ sự thật. Sự tự do tiếp tục của tôi đã phải hàm ơn những nỗ lực của các bạn bè mới và cũ, gia đình, và những người khác mà tôi chưa bao giờ gặp và nhiều khả năng là sẽ không bao giờ gặp. Tôi đã giao phó cuộc đời của tôi cho họ và họ đã đáp lại sự tin tưởng đó bằng một niềm tin vào tôi, niềm tin mà tôi sẽ luôn luôn biết ơn.

Hôm thứ Năm, Tổng Thống Ô-ba-ma đã công bố với toàn thế giới là ông ấy sẽ không cho phép bất kỳ thủ đoạn ngoại giao ngấm ngầm nào đối với trường hợp của tôi. Nhưng ngay lúc này chuyện đã được tường trình là sau khi hứa hẹn không làm như vậy, Tổng Thống đã ra lệnh cho Phó Tổng Thống của ông ấy gây áp lực với các nhà lãnh đạo của các quốc gia mà tôi đã thỉnh cầu sự bảo trợ, để họ từ chối đơn xin tị nạn của tôi.

Kiểu dối trá này từ một người lãnh đạo tầm cỡ thế giới là phi công lý, và cũng không phải hình phạt ngoài luật pháp của sự lưu đày. Những thứ này là những công cụ cũ rích, và xấu xa, của sự xâm lăng chính trị. Mục đích của họ là để làm hoảng sợ, không phải tôi, mà là những ai sẽ tiếp bước tôi.

Trong các thập kỷ, Hợp chủng quốc Hoa kỳ đã là một trong số những người bảo vệ mạnh mẽ nhất quyền của con người được tìm kiếm nơi tị nạn. Một cách đáng buồn, quyền này, đã được trình bày, và đã được bầu chọn bởi nước Mỹ, tại Điều 14 trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, hiện đang bị loại bỏ bởi chính phủ hiện tại của đất nước tôi. Chính quyền Ô-ba-ma hiện đang chấp nhận và thực thi chiến lược dùng quyền công dân như một thứ vũ khí. Mặc dù tôi đã bị kết án không vì cái gì cả, chính quyền đó một cách đơn phương đã hủy bỏ hộ chiếu của tôi, bỏ tôi lại làm một người vô quốc tịch. Không hề có trát của tòa, chính phủ hiện đang tìm cách ngăn tôi thực hiện một quyền cơ bản. Một quyền thuộc về mỗi người. Quyền tìm kiếm nơi tị nạn.

Lập Trình Viên II (54)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Lúc đó là khoảng gần nửa đêm, đội của anh Kốt-xchi-a (không hiểu sao anh lại sung, hay là được sung, vào đấy, — trực quan, thì trông anh có vẻ "ngoại cuộc" hơn cả) được điều ra bảo vệ chiến lũy ở tận ngoài kia, trên Vành đai Vườn tược, — cứ chạy thẳng vào đại lộ Ka-li-nhin, gặp phố to cắt ngang đầu tiên, đấy là phố Trai-kốp-xki, một khúc của Vành đai Vườn tược.

Mật độ người quanh đây lúc này đã đông hẳn hơn so với hồi chiều, và số người đứng xếp trong các hàng cũng nhiều hơn. Theo tình hình các hoạt động xúc tiến chuẩn bị, và theo các nội dung bàn luận, thông báo, trao đổi, cái nào cũng có vẻ như chính thức, thì cuộc tấn công lẽ ra đã phải diễn ra lúc ban ngày, kiểu gì cũng sẽ được triển khai vào đêm nay. Không ngừng có những tiếng la hét nhộn nhạo và tương đối to vọng vào từ phía con đường nhỏ chạy ngang trước mặt Nhà Trắng, và cứ lúc lúc, ở đó lại nổi hẳn lên những tiếng hô khẩu hiệu đồng thanh, kiểu "Tự do! Tự do! Tự do!.."
Khoảng nửa tiếng nữa trôi qua, theo thông báo truyền miệng, thì xe tăng đã sắp sửa đến đây, chúng đang di chuyển theo đại lộ Ka-li-nhin, và — tôi không nghe thấy, nhưng nghe nói là — đã nghe thấy tiếng súng nổ.
Tôi vẫn không nghe thấy, nhưng mới vừa nhìn thấy, chênh chếch về hướng cầu Ka-li-nhin, nhưng ở tít đằng xa, có một vầng tròn sáng trưng bay vọt lên, rồi thong thả rơi xuống, lúc gần khuất khỏi tầm nhìn phía dưới, thì để rớt lại trên đường rơi một hai điểm sáng vuốt đuôi, — pháo sáng.
Trong bầu trời, không trung, và mặt đất quanh đây, lúc này, tôi phải thừa nhận là đang tồn tại một sắc thái khủng bố đậm đà như ngấm được vào người, nhưng mặc dù là nó lẫn vào đó, tôi lại phân biệt được tách riêng nó ra, riêng lắm, vì thứ này gây nên một cảm nhận tương phản, và rất không liên quan gì tới tất cả những thứ đang xảy ra khác, — mưa dường như ngớt, nhưng không khí ẩm ướt làm cho ánh sáng hơi mờ mịt, và tiếng nước rơi lách tách, đều đều (thực ra thì không đều đâu — vì mưa nhỏ, — nhưng liên tục và không dứt, nên vẫn làm cho người nghe thấy như vậy), không hiểu từ những vị trí khác nhau và như là không cố định nào, cứ luôn vẳng đến bên tai.
Và còn có một thứ âm thanh đều đều khác, đều đều hơn, nhanh hơn, và to hơn tiếng nước rơi, nhưng không phải bất định từ bốn phương tám hướng, và không độc cô tự tại được như vậy.

"Xin Chúa rủ lòng thương! Xin Chúa rủ lòng thương! Xin Chúa rủ lòng thương!.."

...

"Người đã chiến thắng những đoàn quân hắc ám, đuổi chúng khỏi bờ cõi Nước Nga: mong Người hãy quật ngã luôn mọi kẻ thù hiện hữu và vô hình đang nổi lên chống lại chúng con."

Cầu nguyện.
Lời cầu nguyện được một giọng nam trung ấm áp đọc lên bằng ngữ điệu đều đều hơn, dồn dập hơn, liền lạc hơn, nghe ngang ngang vì hình như người đọc cố giữ nguyên cao độ, và nhấn vào nhiều trọng âm hơn, so với ngôn ngữ nói thông thường, — tại một chỗ ở chân tường Nhà Trắng, có một hình chữ nhật nhỏ, giống một cái khung đã được căng vải để vẽ, nhưng chưa vẽ gì lên, được dựng nằm ngang, nghiêng nghiêng dựa vào tường, cao đến đầu gối; ở mép khung phía trên có hai ngọn nến cắm hai bên chiếu sáng ba khung ảnh Thánh nhỏ dựng dàn hàng ngang giữa chúng; một ảnh nữa cùng cỡ được dựng ở mép khung bên dưới (áp vào vải khung), cạnh ảnh này còn có một ảnh khác nhỏ hẳn hơn; khoảnh sân nền phía trước khung tranh có một ít hoa và nến, trông tương đối lung linh (một phần do nền và cảnh vật đều ướt át) nhưng ít nhiều lộn xộn; các cha cố, chắc là đến từ một nhà thờ nào đó ở gần đây, đã lập một Bàn thờ Chúa.

"Để lại vòng vương miện dễ lụi tàn của Vương quốc Trần Gian, Người đã lựa chọn cuộc sống tĩnh lặng, và vòng vương miện chính đạo bất diệt, để đăng quang trên Vương quốc Thiên Đường: mong Người hãy ban cả cho chúng con, những kẻ đang khiêm nhường cầu xin, một cuộc sống yên ả và thanh bình, và hãy phù hộ cho chúng con trong cuộc hành trình kiên định đến với Vương quốc Vĩnh hằng."

...

"Trước Bàn thờ Chúa, mong Người cầu nguyện cho tất cả những giáo đồ chính thống, và gìn giữ Chúa của họ bằng ơn huệ của Người trên thế gian, trên thể chất, trên đời sống lâu dài và muôn sự thịnh vượng, và chúng con sẽ mãi mãi ngợi ca và kính ngưỡng Chúa Trời ba ngôi rất thánh, Cha và Con và Thánh Thần, bây giờ và mãi mãi và cho đến muôn đời muôn kiếp. A-men!"

Những người tay cầm ngọn nến sáp ong mảnh mai (dài phải hơn gang, nhưng chỉ to bằng ngón tay út) cháy sáng, đang kính cẩn tụ tập trước Bàn thờ Chúa này, có lẽ đều là "giáo đồ chính thống" cả, — cách họ lẩm nhẩm đọc theo bác... mà chắc chỉ chú thôi... chú Cha Cố trẻ (cả mũ lễ, áo thụng, râu, ria, và tóc, đều đen tuyền, trông rất là đẹp trai và tốt bụng), và cách họ đồng thanh ngân nga ở cuối một vài câu, rất là đúng lúc đúng chỗ và đều, như đã qua tổng duyệt.
Với tôi mà nói, "đức tin" từ trước tới giờ chỉ là một khái niệm từ vựng; có sâu hơn chút nào, thì là Phi Long đã kể tôi nghe một ít về Chúa và Phật, — Phi Long có vẻ cũng biết kha khá, nhưng anh không phải người có tín ngưỡng: Chúa và Phật đối với anh, cũng như toán, lý, hóa, sinh, văn, sử, địa, nhạc, họa... đều là kiến thức cơ bản. Đại khái thì tôi thích Chúa hơn Phật, có lẽ vì tôi là người sinh trưởng ở châu Âu, nên "đầu trọc" gây nên ở tôi những cảm nhận có thể nói là trái ngược với những gì đó mà từ bi hỉ xả...
Nhưng giọng đọc đều đều có âm điệu, và ổn định giữa một bối cảnh bất an; vẻ hiền lành, thành kính, và cùng có một sự đồng cảm chung, động tác làm dấu thánh giá, của những người tay cầm nến; chú Cha Cố trẻ, đẹp trai và tốt bụng... tất cả đều làm cho tôi có thiện cảm lắm.
Nên tôi nghĩ ngợi, và những gì đã được hiển thị và cố tìm cho ra lý do gì đó để có thể nối vào với nhau, trong cơ chế suy luận của tôi, là tương đối mù mờ. Tất nhiên tôi hiểu là họ cầu Chúa Trời, hoặc Chúa Giê-xu, hay là những vị đã được phong Thánh nào đó, để các đấng đó phù hộ cho họ, — các đấng này, tùy thuộc môn phái và "hỏa hầu" riêng, đều sở hữu những quyền năng siêu nhiên nhất định nào đó.
Nhưng nếu Chúa phù hộ thật, thì sao những chuyện như chuyện này lại đang xảy ra?.. Hay có thể... bây giờ thì họ cầu, còn trước đây họ đã phạm phải những lỗi lầm nào đó, và chính Chúa lại đang phạt họ?.. Thế thì "phù hộ" đại khái cũng giống kiểu bố đánh, còn con thì vừa khóc vừa xin bố ơi bố đừng đánh con.
Ngay cả thế, thì chuyện bố phạt con này vẫn mù mờ. Phi Long đã kể tôi nghe về Nạn Hồng Thủy, anh bảo quả đất ngày xưa là một quả khác, rồi lúc phạt các con, Chúa đã nghiêng trục của nó đi ba mươi độ, làm cho nước trào lung tung, và quả đất thành ra quả bây giờ.
Nhưng làm thế thì con tốt con xấu gì cũng đều lụt chết ráo, — kiểu một người phạm tội chém cả nhà này, mục đích là để trừ hậu họa, nhưng Chúa mà cũng sợ bị báo thù hay sao? Không thì chả lẽ cả quả đất chỉ có mỗi ông già Nô-ê và một đám cầm thú là đáng được sống?
Mà thế nào cũng được, bất cần hiểu nguyên do, nếu cứ dính vài con vi-rút, là cài lại hết cả hệ điều hành, — thế thì Chúa có khác gì anh Xéc-giô tôi?
Hẳn là Chúa không muốn giống anh Xéc-giô, — lần sau, Chúa không cài lại hệ điều hành, mà điều con trai mình xuống, chuyên để cho vi-rút ăn, thay vì ăn những người khác. Phi Long bảo trong lúc đợi chờ Giu-đa dẫn vi-rút tới ăn mình, Chúa Con, là Chúa Giê-xu, đã phân vân và hoảng hốt vô cùng; sợ đến vãi mồ hôi, Chúa Giê-xu đã gọi cho bố ba lần liền để xin, nhưng không ăn thua.
Lúc đó chắc ngài còn chưa biết là mình có thể phục sinh, mà phục sinh rồi, thì hình như còn ngon hơn...
Nếu thế chẳng thà chết quách!
Nhưng như chúng tôi đây thì liệu có phục sinh được không? Đã đành, về lý mà nói thì chúng tôi cũng đều là con của Chúa cả... Nhưng nói gì nói, con đàn thì làm sao mà bằng được con cầu tự?..
Tôi chợt phì cười, — tôi nhớ có lần anh Xéc-giô chăm chú ngồi nghe Phi Long kể:
— Đến ngày thứ bảy Chúa quyết định nghỉ, nhưng Người chợt nhớ ra là còn một việc phải làm nốt. Người đến bên mép Thiên Đường, ngồi xuống, và đầy sảng khoái, Người bèn ị một bãi to. Thế là trên đời có người Tàu.
Anh Xéc-giô bảo là hồi trước Phi Long có chơi với mấy sinh viên Tàu, — nói gì nói, người Việt người Tàu vốn là giống gần gũi. Có lần đang đú thì đàn bị đứt dây "thứ ba từ dưới lên", Phi Long bèn chạy xuống tìm một bạn Tàu của mình, tên là Thao, — ở chỗ Thao đúng là còn một cái dây đàn mới. Mấy tháng sau, Thao nhắc trả dây đàn, Phi Long đã ngồi đờ đẫn toàn thân ra mất một lúc, y hệt Lã Bố gặp phải Điêu Thuyền. Từ đó — trả dây đàn xong — anh không chơi với các bạn Tàu nữa.
Càng đêm, không khí ở Nhà Trắng càng sặc mùi "trận địa". Những người lớn đều đang chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, chắc mường tượng được là cầm ô thì chiến đấu sẽ bị vướng, nên tôi thấy nhiều người đã thay ô bằng áo mưa. Trẻ con, chẳng vào "biên chế" nào cả, nên loại "đại hiệp" độc lai độc vãng như tôi tự thấy tốt nhất nên làm sợi dây nối một vài biên chế có liên quan, tức là làm liên lạc giữa những người nhà tôi, — theo Phi Long kể, thì cha đẻ của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam quê anh vốn cũng là một cậu bé liên lạc, tên là Kim Đồng.
Từ lúc đội của anh Kốt-xchi-a ra Vành đai Vườn tược, đã có mấy lần báo động chuẩn bị chiến đấu, làm cho tim trong lồng ngực mọi người — tôi cứ suy từ mình ra thế — nện thình thịch, nhưng rốt cuộc lại toàn là báo động giả.
Khi người ta chờ đợi một điều gì, cho dù đó là điều không nên xảy ra, chỉ cần chờ đủ lâu, sẽ đến một lúc, mà người ta mong nó xảy ra, thậm chí là càng nhanh càng tốt, — không biết những người lớn thì sao, còn tôi quả thật đã có một tâm trạng chính xác là như vậy.
Là phúc thì không phải họa, là họa thì không thể tránh.
Đằng nào cũng đánh nhau, chẳng thà đánh quách cho xong!
Nhưng đến lúc tôi nhận thấy anh A-li-ô-sa đang phải rất cố để không tỏ ra căng thẳng và bảo hai anh em đi tập hợp nhóm nhà tôi lại, thì vẫn chưa thấy triệu chứng đánh đấm gì thật sự. Lúc ấy đã mờ sáng, trời mưa lưa thưa, tôi bảo anh A-li-ô-sa cứ ở đây, chờ tôi đi gọi mọi người, chạy ù cái xong ngay, vì suốt đêm tôi đã chạy đi chạy lại đến thuộc lòng rồi.
Chưa bao giờ tôi thấy giọng anh A-li-ô-sa lại lập cà lập cập thiếu ổn định như vậy, — anh thông báo với chúng tôi là đội trưởng của anh nhận được tin đã có người hy sinh ở chiến lũy ngoài Vành đai Vườn tược. Lập tức, tất cả chúng tôi đều rơi vào — và đều hiểu là chúng tôi đang cùng ở trong — một trạng thái tâm thần hệt như của anh A-li-ô-sa. Và... tốt nhất là không nói gì thêm, chúng tôi vội vàng kéo ra Vành đai Vườn tược.
Và ở đó chúng tôi đã nhìn thấy một vũng máu.
Chỗ đụng độ nằm cách Nhà Trắng chỉ khoảng hơn nửa cây số, chúng tôi đến nơi quãng hơn sáu, hoặc là gần bảy giờ sáng, trời lúc này mưa nặng hạt, tiếng mưa rơi lộp độp nghe rất rõ ngay cạnh mình; vũng máu nằm kéo dài từ mép lề đường, chênh chếch khoảng ba mươi độ sang phải, loang lổ giống như hình bản đồ thế giới được trải rộng rồi kéo dài thêm ra theo chiều ngang, nên gây cảm giác méo mó rất rõ; màu máu đã khô, nhưng máu ướt, vì trời mưa. Trước vũng máu, khoảng một bước chân về phía lòng đường, có một chiếc khăn tay trắng, với những họa tiết mảnh mai và đường viền đều xanh màu trắc bách diệp, để mở, trên có một bó hoa nhỏ, hai bông, màu tím nhàn nhạt, hình như là hoa cúc, khăn cũng nhỏ nên hoa nằm thò chân ra ngoài mặt đường nhựa.
Cách vũng máu màu anh đào này một quãng, có một chiếc xe bọc thép nằm lệch lạc, trên có bảy, tám người đứng lố nhố; vỏ xe màu xanh quân dụng nhiều chỗ đã cháy thành đen thui; sườn xe phần ngay trên xích sắt bên phải bị tróc cả vệt, hở hết lớp sơn phủ, màu đỏ da cam, ở bên trong; ngay cạnh bánh xích có một cái xô, và những mảnh vải rách ướt sũng và cháy xém nằm vung vãi; những mảnh vải như vậy, và một ít que sắt, còn giắt đầy vào vòng bánh xích ở phía đầu xe, lúc tôi lại gần, thì có một chú lớn đang thò tay giật một miếng vải ra, nhưng không được. Đằng sau xe này có số hiệu tương đối to sơn bằng sơn trắng: 536.
Đại lộ Ka-li-nhin chạy từ trung tâm thành phố ra đây theo hướng từ đông sang tây. Phố Trai-kốp-xki (thuộc Vành đai Vườn tược) chạy từ Quảng trường Khởi nghĩa ở phía bắc xuống, chui xuống dưới đại lộ, chui lên, rồi chạy thẳng tiếp về hướng Quảng trường Xmôn-len, — chỗ chui dưới đại lộ là Đường hầm Trai-kốp-xki.
Đội của anh Kốt-xchi-a tới Đường hầm Trai-kốp-xki đúng lúc từ phía Quảng trường Khởi nghĩa nổi lên nhiều tiếng súng. Những người mới đến, và những người đang ở đấy, đều đổ xô về hướng tiếng súng; rồi họ lại chạy ngược trở lại ngay khi nhìn thấy mười bốn chiếc xe bọc thép đang lừ lừ tiến về phía đường hầm, vừa đi vừa bắn đạn lửa lên trời, — đạn lửa là loại đạn phát sáng và tạo thành vệt đuôi khói dài suốt đường bay, đại loại bộ đội pháo binh có thể dùng loại đạn này để xem vệt đường đạn mà ngắm bắn cho chính xác.
Những chiếc bọc thép này là xe Bê-Em-Pê — không phải Bê-em-vê, — là loại xe chiến đấu của bộ binh, mặc dù được trang bị đến cả tên lửa chống tăng, nhưng nếu gặp phải xe tăng thật của chú Xê-rô-ga gày, thì xe tăng chắc chỉ "bùm" phát, có khi là em đi ngay; nhưng trong hàng "không phải tăng" thì bọn này cũng là hạng thật sự có uy tín: nặng gần hai mươi tấn, được trang bị hỏa lực mạnh, và những khí tài tối tân, chúng đắt tiền hẳn hơn các loại bọc thép thông thường, ngoài tổ lái ba người, thì mỗi xe có thể chở được một tiểu đội bộ binh cơ động khoảng bảy, tám người.
Cho nên giữ nguyên đội hình ngay ngắn, tiếp tục bắn đạn lửa lên trời, trên hai trăm rưởi tấn sắt thép có thể tự động di chuyển ấy cứ lừ lừ chui xuống Đường hầm Trai-kốp-xki, như thể trên đường xuống đấy chẳng hề có mấy chiếc xe bồn phun nước đang cố tình nằm cản trở, cùng với những chướng ngại vật "hạng ruồi" của "quân tự vệ".
Và chú Xê-rô-ga gày thì không có ở trong đường hầm.
"Theo thông tin tác chiến đã nhận được, thì họ sẽ không bắn,.." — chú chỉ huy của anh Kốt-xchi-a có vẻ tin chắc như vậy. Nhưng "không bắn" thì sao chứ, — bắn thì người chết chắc, còn không bắn thì người chặn được xe bọc thép à? Tôi còn nhớ như in cái lắc đầu lặng lẽ của chú Xê-rô-ga gày lúc tôi hỏi chú về chiến lũy chống tăng. Tất nhiên, bọn Bê-Em-Pê này thì không bằng tăng được, nhưng công xuất động cơ của chúng cũng phải bốn, năm trăm sức ngựa, — bao nhiêu người thì mới đủ sức chặn một đoàn xe bọc thép mười bốn chiếc: khỏe bằng cả một đàn sáu, bảy nghìn con ngựa? Vả lại một bên là thịt, một bên là sắt, — đây đâu phải chơi kéo co, hay là đấu txu-mô.
Nhưng những chiến sĩ dân binh bảo vệ Nhà Trắng dường như đã chẳng hề phân vân... hay là chẳng hề cân nhắc, — trong đầu họ, những người đang có mặt tại Đường hầm Trai-kốp-xki, hình như chỉ có mỗi một suy nghĩ đã được khẳng định: họ sẽ chặn xe bọc thép lại để bảo vệ Nhà Trắng.
Và trong số những người ấy, những người không có đạn lửa, không có đạn thường, không có súng, nhưng "sẽ chặn xe bọc thép lại", có anh Kốt-xchi-a tôi, một trong những sinh viên xuất sắc nhất của một trường đại học lớn nhất nhì đất nước.

(Còn nữa)
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 3):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 2):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 1):
Truyện "LẬP TRÌNH VIÊN" (Phần I — Đầy đủ):

Julian Assange: Edward Snowden là một trong số chúng ta

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tới giờ đã là một năm từ khi tôi bước vào đại sứ quán này và tìm được nơi ẩn náu tránh khỏi sự khủng bố.
Như một kết quả của quyết định đấy, tôi đã có khả năng để làm việc trong một sự an toàn tương đối khỏi hoạt động điều tra gián điệp của Mĩ.

Nhưng hôm nay, sự thử thách của Ét-uốt Xnâu-đân chỉ mới vừa bắt đầu.
Hai quá trình chạy trốn nguy hiểm đã có căn nguyên từ thập kỷ trước, cùng với những hệ quả chí tử đối với nền dân chủ.
Sự che dấu bí mật của chính phủ đã được mở rộng trên một quy mô kinh khủng.
Đồng thời, sự riêng tư của con người đã bị tuyệt diệt một cách bí mật.

Một vài tuần trước, Ét-uốt Xnâu-đân đã thổi tiếng còi cảnh báo vào một chương trình đang được tiến hành — dính líu đến cả Chính phủ Ô-ba-ma, đến khu vực hoạt động tình báo, và đến những nhà khổng lồ cung cấp dịch vụ In-tơ-nét — để do thám tất cả mọi người trên thế giới.
Anh ấy đã bị Chính phủ Ô-ba-ma — như một cỗ máy vô tri — kết tội hoạt động gián điệp.
Chính phủ Mĩ đang do thám mỗi người và mọi người trong chúng ta, nhưng người bị kết tội hoạt động gián điệp lại là Ét-uốt Xnâu-đân, vì đã cho chúng ta biết chuyện đó.
Chuyện này đang đạt tới một điểm, nơi mà dấu hiệu của sự xuất chúng và sự hữu ích cho loài người, ở tầm quốc tế, không còn là Giải thưởng Nô-ben, mà là bản cáo trạng buộc tội hoạt động gián điệp của Bộ Tư pháp Mĩ.

Ét-uốt Xnâu-đân là người tiết lộ thông tin thứ tám, bị kết tội hoạt động gián điệp dưới thời của vị Tổng thống này.
Tiến trình xét xử trọng điểm với Brét-li Men-ninh đến thứ Hai sẽ bước sang tuần thứ tư.
Sau bài cầu nguyện về những việc sai trái đã làm với anh ấy, Chính phủ Mĩ đang cố gắng kết án anh ấy tội "giúp đỡ kẻ thù".

Từ ngữ "kẻ phản bội" đã bị vung vãi rất nhiều khắp chung quanh trong những ngày này.

Pút-tin: Cái này chẳng khác gì cạo lông lợn con

5 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Ngài Xnâu-đân quả thật đã đến Mát-xcơ-va.
Với chúng tôi đây là một sự bất ngờ hoàn toàn.
Anh ấy đến như một hành khách quá cảnh. Và anh ấy không cần thị thực, cũng không cần các giấy tờ khác. Anh ấy, như một hành khách quá cảnh, có quyền mua vé và bay đến đâu mà anh ấy muốn.
Anh ấy không vượt qua đường biên quốc gia, nên anh ấy không cần thị thực.
Mọi sự cáo buộc nhằm vào nước Nga là nhảm nhí và bậy bạ.
Anh ấy, là một hành khách quá cảnh, nên cho đến giờ vẫn đang ở trong phòng quá cảnh.
Đặc vụ của chúng tôi chưa bao giờ làm việc với ngài Xnâu-đân và hiện giờ cũng không làm việc.
Liên quan đến khả năng trao trả cho dù là đến chỗ nào, thì chúng tôi có thể trao trả những công dân ngoại quốc nào đó chỉ cho những quốc gia, mà với họ chúng tôi có những thỏa thuận quốc tế tương ứng về việc trao trả tội phạm. Với Mĩ chúng tôi không có một thỏa thuận như thế.
Trên lãnh thổ Liên bang Nga ngài Xnâu-đân, ơn giời, không phạm một tội nào.
Có một nhân vật khác tương tự.
Ngài A-san-giơ...
Người mà người ta cũng đòi trao trả và cũng coi là tội phạm.
Anh ấy, cũng giống như ngài Xnâu-đân, coi mình là người hoạt động bảo vệ nhân quyền.
Và đấu tranh cho việc truyền bá thông tin.
Các vị hãy tự hỏi: cần phải trao trả những người như thế để cho ngồi tù, hay là không cần?


Trong mọi trường hợp thì tôi, nói riêng, thích không phải giải quyết những vấn đề tương tự.
Bởi vì cái này đằng nào thì cũng chẳng khác gì là cạo lông một chú lợn con, — tiếng kêu la thì nhiều, còn lông thì ít.
Thôi để cho ngài Miu-lơ (Giám đốc FBI Mĩ — Người dịch chú thích) và ngài Bót-nhích-kốp (Giám đốc An ninh Nga — Người dịch chú thích) nghiên cứu cách giải quyết vấn đề này.
Tôi hy vọng, việc này sẽ không hề ảnh hưởng đến tính công việc trong mối quan hệ của chúng tôi với Mĩ. Và tôi hy vọng các đối tác của chúng tôi hiểu được chuyện này.
Ngài Xnâu-đân là một người tự do. Anh ấy chọn được điểm đến cuối cùng của mình càng sớm, thì sẽ càng tốt, cho chúng tôi và cho anh ấy.

Người Cá (A. R. Ben-lai-ép)

3 ý kiến, và ý kiến từ facebook

NGƯỜI CÁ
(Ben-lai-ép, A-lếch-xan-đrơ Ra-man-nô-vích)

MỤC LỤC
Chương I: Con Quỷ Biển xuất hiện
Chương II: Âm mưu thâm độc của Du-rít-ta
Chương III: Bác sĩ Xan-va-to
Chương IV: Mưu kế xảo quyệt của Krít-xtô
Chương V: Người-cá Ích-chi-an-đrơ
Chương VI: Cuộc gặp gỡ bất ngờ
Chương VII: Ích-chi-an-đrơ vào thành phố
Chương VIII: Làm quen với Gút-ti-ê-rê
Chương IX: Một người bạn mới
Chương X: Đến trang trại Đô-lơ-rét
Chương XI: Người tù kỳ lạ
Chưong XII: Ích-chi-an-đrơ thoát nạn
Chương XIII: Người cha mới xuất hiện
Chương XIV: Người mất trí thiên tài
Chương Kết: Vĩnh biệt Gút-ti-ê-rê

— Có nghe thấy tiếng hú không? Chắc là nó xuất hiện đấy!
— Tôi chẳng nghe thấy gì cả. — Người thợ quỳ gối lắng nghe và khẽ đáp lại.
Tiếng tù và và tiếng hú lại đột nhiên phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Nghe tiếng đó, người thợ lặn bỗng sụp xuống.
— Đúng là nó rồi! — Anh nói với giọng run rẩy và hoảng sợ.
Đám thợ lặn đã tỉnh giấc. Họ lê tới chỗ có ánh đèn, dường như muốn tìm sự che chở trong những tia sáng vàng vọt của nó. Họ ngồi chen chúc nhau và lắng nghe với vẻ mặt căng thẳng. Tiếng tù và và tiếng người hú từ xa còn vọng lại một lần nữa, sau đó mất hẳn.
— Nó đấy...
— Con Quỷ Biển! — Họ thì thào.
— Chúng ta không thể ở lại đây được!
— Cá mập cũng không đáng sợ bằng...

...

1. Ở một số nơi trên bãi cát ven biển, chúng tôi thấy dấu chân người nhưng hẹp hơn về chiều ngang. Những giấu chân đó từ biển vào rồi lại trở ra. Tuy vậy, đó có thể là dấu chân của một người từ biển vào bằng thuyền.
2. Những tấm lưới chúng tôi được xem có thể đã bị một vật rất sắc cắt đứt. Có thể là lưới đã bị mắc vào mỏm đá ngầm hay những mảnh sắt của tàu thuyền bị đắm.
3. Theo lời kể của những nhân chứng, một con cá heo bị bão xô dạt vào bờ khá xa, nhưng đêm hôm đó có người đã kéo nó xuống biển. Người ta đã phát hiện ra vết chân có móng dài. Chắc hẳn đã có một người đánh cá nhân từ nào đó cứu sống con cá.
Ta đều biết là để trả ơn, dân chài thường cứu cá heo khi chúng gặp nạn. Vết móng chân có thể là vết móng tay người được tưởng tượng thêm ra mà thôi.
4. Con dê có thể do một kẻ tinh nghịch chở đến bằng thuyền và chở sang thuyền khác.

...

Một lát sau người thợ lặn tỉnh lại, nhưng anh ta bỗng kêu rống lên, lắc lắc đầu, thở phì phì, môi trề ra. Đám thợ lặn trên tàu xúm quanh và nóng lòng chờ người bạn kể lại đầu đuôi câu chuyện. Một anh trẻ tuổi lay người bị nạn và hét to:
— Cậu nói đi! Nếu cậu không muốn cho cái hồn vía nhút nhát của cậu lìa khỏi xác!
Người bị nạn quay đầu lại và nói giọng khàn khà:
— Gặp... Quỷ Biển.
— Thế thì nói đi, nói ngay đi! — Đám thợ lặn sốt ruột cùng kêu lên.
— Có một con cá mập đang lao tới. Mình nghĩ nụng "thôi đứt rồi!" Nó há miệng và sắp nuốt chửng mình. Nhưng lại có...
— Cá mập nữa à?
— Không, Con Quỷ Biển!
— Nó thế nào? Nó có đầu không?
— Có. Hai mắt to như hai cái cốc.
— Đã có mắt thì phải có đầu. — Anh thổ dân trẻ tuổi khẳng định. — Nó có tay không?
— Có! Tay nó như chân nhái. Ngón dài màu xanh, có móng và có màng. Toàn thân nó óng ánh như có vảy bạc. Nó lao về phía con cá mập, giơ tay lên đâm. Phập! Thế là máu ở bụng cá phun ra...
— Vậy chân nó ra sao?
— Chân à? — Anh thợ lặn cố nhớ lại. — Hoàn toàn không có chân mà chỉ có một cái đuôi thật lớn...

Download truyện "Người Cá" — Bản đầy đủ (478KB):
Hướng dẫn cách dùng tủ sách của me(): Tủ sách của Chương trình me()

Kết quả bỏ phiếu tín nhiệm 47 quan chức cao cấp (Quốc hội Việt Nam 11/6/2013)

6 ý kiến, và ý kiến từ facebook

(Tín nhiệm thấp thì xếp lên trên)

Danh sách 47 ngườiChức danh Tín nhiệm cao Tín nhiệm Tín nhiệm thấp
Nguyễn Văn BìnhThống đốc Ngân hàng Nhà nước 88194209
Phạm Vũ LuậnBộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo 86229177
Nguyễn Tấn DũngThủ tướng Chính phủ 210122160
Nguyễn Thị Kim TiếnBộ trưởng Bộ Y tế 108228146
Vũ Huy HoàngBộ trưởng Bộ Công Thương 112251128
Hoàng Tuấn AnhBộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch90288116
Phạm Thị Hải ChuyềnBộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội105276111
Trịnh Đình DũngBộ trưởng Bộ Xây dựng 131261100
Đinh La ThăngBộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải 18619899
Nguyễn Thái BìnhBộ trưởng Bộ Nội vụ 12527492
Huỳnh Phong TranhTổng thanh tra Chính phủ 16424187
Nguyễn Bắc SonBộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông27128177
Nguyễn Thiện NhânPhó thủ tướng Chính phủ 19623065
Giàng Seo PhửBộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc15827063
Vũ Văn NinhPhó thủ tướng Chính phủ 16726459
Cao Đức PhátBộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 18424958
Bùi Quang VinhBộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư 23120546
Hoàng Trung HảiPhó thủ tướng Chính phủ 18626144
Nguyễn QuânBộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ 12330443
Nguyễn Minh QuangBộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường13330442
Hà Hùng CườngBộ trưởng Bộ Tư pháp 17628036
Nguyễn Xuân PhúcPhó thủ tướng Chính phủ 24820735
Trương Hòa BìnhChánh án Tòa án Nhân dân Tối cao 19526034
Vũ Đức ĐamBộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ21524529
Trương Tấn SangChủ tịch nước 33013328
Nguyễn Văn HiệnChủ nhiệm Ủy ban Tư pháp 21025328
Ksor PhướcChủ tịch Hội đồng Dân tộc 26020428
Nguyễn Sinh HùngChủ tịch Quốc hội 32813925
Tòng Thị PhóngPhó chủ tịch Quốc hội 32214524
Trần Đại QuangBộ trưởng Bộ Công an 27318324
Nguyễn Hòa BìnhViện trưởng Viện Kiểm soát nhân dân Tối cao 19826923
Huỳnh Ngọc SơnPhó chủ tịch Quốc hội 25221722
Phan Xuân DũngChủ nhiệm Ủy ban Khoa học23423522
Phạm Bình MinhBộ trưởng Bộ Ngoại giao 23823321
Đào Trọng ThiChủ nhiệm Ủy ban VH GD - Thanh thiếu niên và Nhi đồng24123219
Phan Trung LýChủ nhiệm Ủy ban Pháp luật 29418018
Nguyễn Thị NươngTrưởng ban Công tác đại biểu 29218317
Nguyễn Văn GiàuChủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế 27320415
Nguyễn Thị Kim NgânPhó chủ tịch Quốc hội 37210414
Nguyễn Thị DoanPhó chủ tịch nước 26321513
Uông Chu LưuPhó chủ tịch Quốc hội 32315513
Phùng Quang ThanhBộ trưởng Bộ Quốc phòng 32314413
Nguyễn Hạnh PhúcChủ nhiệm Văn phòng Quốc hội 28619412
Phùng Quốc HiểnChủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách 29118911
Trần Văn HằngChủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại 2532299
Nguyễn Kim KhoaChủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng An ninh 2672159
Trương Thị MaiChủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội3351516

Trích: BỘ CHÍNH TRỊ
(Tín nhiệm cao thì xếp lên trên)

Danh sách Bộ Chính TrịChức danh Tín nhiệm cao Tín nhiệm Tín nhiệm thấp
Nguyễn Thị Kim NgânPhó chủ tịch Quốc hội 37210414
Trương Tấn SangChủ tịch nước 33013328
Nguyễn Sinh HùngChủ tịch Quốc hội 32813925
Phùng Quang ThanhBộ trưởng Bộ Quốc phòng 32314413
Tòng Thị PhóngPhó chủ tịch Quốc hội 32214524
Trần Đại QuangBộ trưởng Bộ Công an 27318324
Nguyễn Xuân PhúcPhó thủ tướng Chính phủ 24820735
Nguyễn Tấn DũngThủ tướng Chính phủ 210122160
Nguyễn Thiện NhânPhó thủ tướng Chính phủ 19623065

Lập Trình Viên II (53)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Nhưng hẳn là trên đời sẽ chả có vị Chỉ huy Sư đoàn nào dạy chú Xéc-gây nói tiếng mẹ đẻ, còn ông En-txin thì có bao giờ lại coi chú như là em ruột chứ? Có điều nếu tôi cãi Phi Long, hay A-nhi-a, hay thậm chí cãi cả đôi, thì tệ nhất cũng chỉ đến dỗi nhau là cùng, mà dỗi đương nhiên cũng rất tạm thời thôi. Còn chú Xéc-gây thì khác đấy, — sai một li ở đây, có thể đi thẳng ra tòa án binh... mà cục diện này, nếu là trong phim, thì một loạt đạn bắn hạ ngay tại chỗ sẽ là một thực tế hiện hữu hẳn hơn.

Tôi không biết chú Xéc-gây đã nghĩ những gì, và chú có phải do dự nhiều không; tôi cũng hoàn toàn không hình dung được nếu là tôi thì tôi sẽ phải làm sao; nhưng buổi tối, lúc chú đã cho sáu chiếc xe tăng của mình đến trấn giữ các vị trí trọng yếu để bảo vệ khu vực Nhà Trắng, tôi đã tin chắc là tôi cũng sẽ làm như vậy.
Hôm ấy về nhà tôi trên phố, ai nấy gọi điện về nhà xong, A-nhi-a còn nhấp nhổm mấy lần, định về ký túc xá, đến nỗi anh A-li-ô-sa xuýt nữa đã làm ầm lên, chị mới thôi; một lúc, chị gọi về nhà Xvét-ka, dặn dặn dò dò tương đối lâu, — hai người họ, nhà đều ở gần trường. Rồi chắc đã phần nào yên tâm về "ký túc xá", chị với Vê-rôn-na mới vác cái túi du lịch "bảo bối" to bát xụ đi khắp quanh khu nhà tôi, và quyên về được một túi "căng-tin" đầy ự.
Và anh A-li-ô-sa, cả Vê-rôn-na nữa, đã bàn chuyện "trực chiến" ban đêm; nhưng Hội nghị Bình Than lần này, chưa ai hô "Sát Thát!", cũng chưa có ai kịp bóp nát quả cam nào, thì mọi định hướng chiến lược đều đã bị cắt ngang bởi tiếng ngáy hồn nhiên của anh Xéc-giô, — rõ thật "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài", thật khó mà phản đối lại một "tiếng lòng" chân tình đến nhường ấy, cho nên tất cả cùng đồng thuận ngủ ở nhà.
Nhưng "tâm chi thanh" chân tình thì chân tình thật, nhiều khi không hẳn đã phải là theo khát vọng của chính người ta, — sáng hôm sau, anh Xéc-giô có lẽ đã là người phải chịu tiếc nuối sâu xa nhất.

Thúy Kiều là chị Thúy Vân,
Từ Hải thích nhất là chân Thúy Kiều.

Anh Xéc-giô của tôi thì thích nhất là đàn đúm dã ngoại, và trong khung cảnh ngái ngủ, tương đối mịt mờ và ướt át của buổi sớm tinh mơ, thì khó thể không nhận ra những dấu tích quen thuộc quanh khu vực Nhà Trắng, — đã có những đám "bập bùng" suốt cả đêm.
Tôi đang định trêu anh Xéc-giô một câu, thì Vê-rôn-na — đang đi bên phải, trước tôi một chút — bỗng đột ngột lùi một bước chênh chếch, tay trái quờ ra, gần như vịn vào tôi; người như Vê-rôn-na không phải dễ hốt hoảng, nên tôi nắm lấy cánh tay chị, bước vượt lên, và... rất cố gắng để không lặp lại những gì chị vừa mới làm.
Đó là mép ngoài của một "bức tường" hơi nghiêng nghiên và chênh chếch, chỗ cao nhất phải quá đầu, được dựng lên bằng những tấm tôn, sắt gỉ, mặt bàn, đứng được nhờ những que chống xiêu vẹo và đa chủng loại; tường dựng chếch khoảng phần ba góc vuông và mép tường bên trong nép vào chân tòa nhà, tạo thành một phần diện tích "kín đáo", phía mở ra ngoài của diện tích này được che chắn sơ sài và mang tính "quy ước", bằng vài thứ bao tải, cánh tủ gãy, thanh gỗ gác nghiêng nghiêng, còn chỗ tôi đang đứng — chỗ hở giữa hai "bức tường" trên — là "cửa".
Trong "nhà", có sáu... bảy người nằm bất động, mắt nhắm nghiền.
Đấy là suy nghĩ của tôi đã tự khẳng định theo tác động của hiện trạng, vì thực ra tôi chỉ nhìn thấy hai cặp mắt nhắm nghiền, — có hai người nằm nghiêng, còn lại đều nằm sấp, chen chúc, trên những gì đó giống như những tấm xốp trắng dày khoảng mươi phân và phẳng, được lót dưới đất rồi phủ một cách vá víu những tấm vải rách nhưng thuộc loại vải dày và tương đối rộng lên trên; người nằm ngoài cùng, mặc áo gió vải bóng màu chì thẫm và quần âu màu tro, ngoại trừ nửa cánh tay phải gập vào thì nằm sấp thẳng và ngay ngắn như đã được sắp xếp và chủ ý cân chỉnh, hai chân đi dày da vàng nhạt có vẻ xịn nhưng cũ rích và đã giẫm bừa vào bùn, chĩa thẳng vào chân tôi, gần chính xác như tôi bây giờ bước lên một bước dài, rồi đứng nghiêm và đổ sấp người xuống.
Tôi còn đang á khẩu thì có thứ gì động đậy. Vội lắc nhẹ đầu một cái... tôi thở phào, — một người nằm giữa đám, áo khoác pha ni-lông màu đen dài trùm mông, hai ống quần bò bạc phếch và bẩn nhét vào trong hai cổ giày cao của đôi dày da đen đế to tổ bố, đang chống cùi tay nhổm dậy, đầu tóc đen và bù xù, dài và hơi quăn, ngọ ngoạy bên này, bên kia, rồi lại loay hoay nằm sấp xuống gần y nguyên như cũ: các chiến sĩ tự vệ Nhà Trắng sau một đêm dài "bập bùng" trực chiến, hẳn mới đặt mình chợp mắt chưa được lâu.
Người nước tôi hình như có xu hướng thích nằm sấp ngủ, — cả tôi, anh A-li-ô-sa, anh Kốt-xchi-a, và nhất là anh Xéc-giô đều hay nằm ngủ kiểu này, không giống Phi Long: tôi chưa thấy anh nằm thế lần nào.
Được cái, "Người vui cảnh có buồn lâu bao giờ?", anh Xéc-giô không phải loại người buồn lâu, và buổi sáng hửng thêm một chút, thì không khí "dã ngoại" — có thể nói là — sôi nổi đã quay ngay trở lại Nhà Trắng.
Theo mật độ hiện có và tốc độ kéo đến, thì người sẽ đông hẳn hơn hôm qua, và không biết có phải vì ở chân tòa Nhà Trắng — tức là "bên mình" — đã xuất hiện thêm những chiếc xe mặc dù nhỏ thôi, còn không to bằng một chiếc xe tải, nhưng đúng là xe bọc thép, có nòng pháo hẳn hoi, quanh xe có những người lính mặc kiểu quân phục nhìn cũng thấy ngay là rất "tinh nhuệ", hay không, mà hôm nay trông ai cũng vui vẻ hẳn hơn, và cười nhiều, chứ không băn khoăn, đăm chiêu, ngơ ngác, bất an, hớt hải... như hôm qua.
Tôi hỏi, và biết được những chú bộ đội — nhiều chú đang phì phèo thuốc lá — mặc đồ rằn ri và còn đeo trên mình những thiết bị gì đó lỉnh kỉnh trông rất là ác chiến kia là lính dù thuộc sư đoàn dù 106 do thiếu tướng Lê-bét đích thân dẫn đến đây, — nếu lính dù đúng là kiểu ở trong phim hành động... trước khi kịp "chỉnh đốn" ngay lại suy nghĩ này, thì trong tôi đúng là đã có mong muốn được xem họ đánh nhau thật ở đây.
Sau một ngày đêm cố thủ, và không xảy ra chuyện gì đáng kể cả, xem ra đã có một tiếng thở phào trong tất cả mọi người, — theo biểu hiện mà nói, thì tâm trạng chung hoàn toàn có thể diễn tả bằng một từ "nhẹ nhõm", và không ai có vẻ sợ cả. Tôi cũng vậy, — có cái gì đó, không biết vì sao, nhưng đúng là giống như "mọi chuyện đã qua".
Nhưng người đông, thì dù có cùng tâm trạng, cách bày tỏ bằng hành động cũng sẽ theo những chiều hướng khác nhau. Cho nên trong lúc A-nhi-a vừa quệt mồ hôi trán vừa liên tục cắt thịt cắt bánh và xếp chúng vào nhau làm bút-te-brốt tại một điểm dịch vụ căng-tin; còn Vê-rôn-na quanh quẩn gần đấy, túc trực một vỏ hộp sắt tây tròn to, luôn mồm cảm ơn những người đã bỏ tiền vào, lúc nào tiền dềnh lên gần đến miệng hộp, thì lại cầm cái vỏ bình cô-ca loại một lít rưỡi ấn lên để đằm chúng xuống; thì có những người đã về nhà lôi ở đâu ra những chiếc áo khoác dài tre-rkết-xka với những ống tuýp để đựng thuốc súng gắn dọc áp sát liên tiếp vào nhau, thành hai băng ở hai bên ngực, những chiếc mũ lông to bè ra ở phía trên theo chiều ngang, thậm chí cả dao găm dài nghêu đút trong vỏ chạm trổ hoa văn đeo lủng lẳng ở thắt lưng, rồi đóng nguyên cả bộ như thế vào, trông chả khác gì những thủ lĩnh cô-dắc thực thụ, cầm thêm lá cờ ba vệt trắng, xanh da trời, đỏ, rồi cứ đi vòng vòng khắp quanh tòa nhà, — chắc họ là nghệ sĩ, tôi đoán thế. Trong lúc anh Xéc-giô hăm hở dán một cái tranh rộng cả mét, nền đỏ tuyền, trên có hình bóng đen của một thứ trông giống như cái dương vật, cũng chả cách điệu nữa, lên tường — mặt sau — Nhà Trắng, rồi bặm môi viết nguệch ngoạc chữ "I-a-dốp" lên cái hình kia, ngay bên cạnh đấy đã có một bức khác đúng như thế, nhưng chữ là "I-a-nai-ép", — ông này là Phó Tổng Thống Liên Xô, còn ông I-a-dốp là Bộ Trưởng Quốc phòng, đều là thành viên của cái ủy ban gì đó về tình trạng đặc biệt, mà ông En-txin đã tuyên bố là bất hợp pháp kia (chả là tiếng nước tôi, "thành viên" và "dương vật" là hai nghĩa khác nhau của cùng một từ), — thì cách đấy mười lăm hai mươi bước chân, tiếng đàn ban-giô, kèn tờ-rom-pét, và loại kèn ba-rít-tông gì đó dùng để đệm bè trầm, bỗng rộn ràng vang lên: các nhạc công đường phố đã kịp kéo cả dàn (chắc là) thẳng từ phố A-rờ-bát qua đây.
Và có một hoạt động vẫn nhất quán suốt từ hôm qua tới giờ: xây dựng chiến lũy, — hôm nay, đã có nhiều mảng gạch và đá lát nền ở chỗ này, chỗ khác được cậy lên và khuân đến để gia cố các chiến lũy, cũng có thể để xếp sẵn ở đấy, làm "củ đậu bay".
Không khí vui tươi nhộn nhịp này tiếp diễn được hết buổi sáng; đến đầu giờ chiều, trời vẫn âm u, ẩm ướt, và yên ả, nhưng tất cả mọi người đều đã chuyển sang tâm trạng phấp phỏng chờ đợi một cơn bão lớn, — Nhà Trắng sắp bị tấn công.
Tin này đã được lan truyền với đầy đủ đặc trưng của một thông tin chính thức.
Tại một trong những cánh cửa mở vào tòa Nhà Trắng có một chú mặc đồ công an, thắt cà-vạt hẳn hoi nhưng không khoác áo ngoài, và rất là lỉnh kỉnh — bao súng lục ở hông, một khẩu AK quàng trên vai phải, lại còn một cái xà-cột có quai đeo to bản khoác chéo qua người, cũng từ bên vai phải, đè cả lên cà-vạt, — đứng canh chừng; tôi vội lại gần (vì vừa nghe tin tấn công) thì thấy chú này trẻ măng và thư sinh như một nghiên cứu viên, đeo kính cận, và đeo hàm thiếu úy; tôi chưa kịp hỏi gì chú thì đã nghe lao xao từ sau lưng:
— Có biết lúc nào bắt đầu tấn công không cậu? — Có mấy bác lớn hơn cũng đang lại gần.
— Chỉ có thông tin như thế, — chú công an khẽ lắc đầu, — chính xác và cụ thể hơn thì không.
— Có tin gì về việc họ đang điều quân cận vệ tới đây không?
— Không, không có tin gì cả.
— Các cậu sẽ theo lệnh ai?
Chú công an, không biết là vô tình hay hữu ý, đã nhìn thẳng về phía trước, trong tư thế nghiêm, như đứng chào cờ, rồi nói như không phải đang nói chuyện với người khác, mà đang đọc lời tuyên thệ:
— Theo lệnh của Chính Phủ Nga.
Lúc chú nói câu này, tôi mới nhìn thấy khẩu AK của chú, băng đạn được quấn băng dính nhựa màu trắng, trên có viết chữ màu mực xanh: "Của chúng ta".
Có những điểm dịch vụ mới mọc lên, — na ná như căng-tin của A-nhi-a, nhưng trên tường, cao hơn đầu người, có dán những tờ giấy trắng, trên vẽ một dấu cộng to và đậm màu đỏ. Tại một điểm như thế, tôi được một cô béo, tóc cắt ngắn, đeo kính cận, mặc váy và khoác áo gió, phát cho một cái khẩu trang to bằng vải xô trắng, đã được tẩm nước xô-đa, thấy bảo là dùng để phòng lựu đạn cay; tôi hỏi cô béo:
— Cái này chống được khói cay à cô?
Cô nhìn tôi, cười lành lành:
— Làm sao cô biết được?
Bữa tối, không thấy anh Kốt-xchi-a về chỗ tập kết, và có vẻ như ai cũng tránh không nhắc đến cuộc tấn công sắp xảy ra; tôi hình dung là không ai muốn nói đến chuyện "lui quân" về nhà cả, và trong mỗi người — cũng như tôi — đều quẩn quanh một tia hy vọng là "cuộc tấn công" ấy dù sao cũng sẽ chỉ là tin đồn.
Đêm.
Cuộc tấn công mà chúng tôi đã chờ đợi suốt cả buổi chiều vậy là vẫn chưa xảy ra.
Mưa nhiều hẳn, có thể nghe thấy tiếng nước rơi, và tiếng nước đã đọng vào đâu đó rồi mới rơi, mọi người lại giương ô lên lố nhố; trong bối cảnh nhộn nhạo theo kiểu nghiệp dư, được chiếu sáng lấp loáng một cách không chủ ý, chủ yếu là ánh sáng hơi vàng vàng hắt từ trong tòa nhà ra, cộng thêm — có lẽ chỉ là cảm giác được chiếu sáng bởi — ánh sáng từ những cột đèn cao áp ở mãi ngoài đường, tôi đã nhìn thấy anh Kốt-xchi-a.
Gày gày, và cao dong dỏng, chiếc áo gió thể thao màu ghi sáng quen thuộc cùi tay đã gần sờn nhưng chính hiệu nai-ki phéc-mơ-tuya kéo kín một nửa, hở ra ngực áo và cổ áo sơ-mi ca-rô "trắng — xanh chì", anh Kốt-xchi-a tôi đang đứng rất nghiêm chỉnh trong một hàng các anh khác, ở ngay trước (bên trong) cái chiến lũy — đã to cao hẳn và có nhiều thanh gỗ lực lưỡng hơn so với hôm trước — của anh Nhi-ka-lai; có một anh (hoặc chú) to cao vạm vỡ, mặc bộ quần áo hệt như của anh Nhi-ka-lai, nhưng mặt mũi giống trong phim hành động hơn, tóc vàng húi cua, tay đeo một cái đồng hồ kim loại to và sáng lấp lánh, đang đi đi lại lại phía trước (dọc theo) hàng người họ. Nhìn thấy tôi, anh Kốt-xchi-a gật gật đầu và cười mép.
— Tôi báo trước, chuyện này có thể rất nguy hiểm. — Chú to cao vừa thong thả nện cồm cộp gót giày da cao cổ, vừa nói, cũng thong thả, không to, nhưng dõng dạc. — Mục đích: không để cho xe bọc thép tiến về Nhà Trắng.
— Những chiến lũy ngoài đó, chỉ cần họ quay nòng vào nổ một phát, thì tanh bành ngay. — Người đứng ngay cạnh, bên trái anh Kốt-xchi-a lên tiếng; anh này chỉ cao đến mắt anh Kốt-xchi-a, cũng mặc áo gió, nhưng không phải gió thể thao, và là loại áo nội địa, sáng màu hơn áo anh Kốt-xchi-a, có hai túi ngực to hình hộp có nắp vuông, vạt áo phanh hẳn ra; căn cứ vào cách nói mà đoán, thì chắc anh phải biết chuyện "tanh bành" này thật.
— Theo thông tin tác chiến đã nhận được, thì họ sẽ không bắn, cho nên chúng ta chỉ cần giữ chân họ lại thôi, giữ lại bằng mọi cách; để làm thế cần phải có các chai xăng, và mọi người đừng quên mang theo giẻ rách. — Chú chỉ huy giải thích. — Còn bây giờ: Bên phải, quay!
— Xin lỗi... anh!
Đấy là anh Kốt-xchi-a của tôi, — chú chỉ huy vừa hô "quay!", Kốt-xchi-a bèn quay sang trái, và vòng quay thì không được gọn gàng cho lắm, nên va nhẹ vào anh "tanh bành", anh kia cười khẽ.
— Đi đều, bước! — Chú chỉ huy không rõ là có cười tí nào không, nhưng có vẻ chú đã chờ anh Kốt-xchi-a quay lại cho đúng hướng, rồi mới ra lệnh, nhưng bằng một ngữ điệu tương đối nhẹ nhàng. — Phải nhanh lên một chút, các đồng chí, bọn xe tăng cũng đang chuẩn bị xuất phát.
Lúc đó là khoảng gần nửa đêm, đội của anh Kốt-xchi-a (không hiểu sao anh lại sung, hay là được sung, vào đấy, — trực quan, thì trông anh có vẻ "ngoại cuộc" hơn cả) được điều ra bảo vệ chiến lũy ở tận ngoài kia, trên Vành đai Vườn tược, — cứ chạy thẳng vào đại lộ Ka-li-nhin, gặp phố to cắt ngang đầu tiên, đấy là phố Trai-kốp-xki, một khúc của Vành đai Vườn tược.

(Còn nữa)
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 3):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 2):
Truyện "Lập Trình Viên II" (Phần II — Chương 1):
Truyện "LẬP TRÌNH VIÊN" (Phần I — Đầy đủ):

Pút-tin: Cuộc hôn nhân của chúng tôi đã kết thúc

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Một trong những sự kiện quan trọng nhất trong tân lịch sử của nước Nga một lần nữa lại có liên quan với môn múa ba-lê
Trong thời kỳ Xô Viết của lịch sử nước Nga, múa ba-lê cùng với vũ trụ và khúc côn cầu đã thuộc trong số những lĩnh vực mà họ xứng đáng được coi là những người đứng đầu thế giới.
Sau các sự kiện năm 1991, khi mà trong triều đại ngắn ngủi của Ủy ban Quốc gia về Tình trạng khẩn cấp, người ta đã kịp phát nhiều lần trên truyền hình vở "Hồ Thiên Nga", thì múa ba-lê đã trở nên có mối liên hệ với những biến động chính trị nghiêm trọng của nước Nga.
Những sự kiện ngày 6 tháng 6 năm 2013, rất có thể, sẽ củng cố thêm cho nghệ thuật múa này danh tiếng là điềm báo trước của những sự kiện mang tính thời đại.
Vào buổi tối hôm đó, Tổng Thống Nga Vla-đi-mia Pút-tin, lần đầu tiên sau một thời gian dài, đã xuất hiện trước công chúng cùng với vợ ông, bà Lút-mi-la Pút-tin-na, — hai vợ chồng đến Cung Quốc gia Krem-linh xem vở ba-lê "E-xmê-ran-đa".
Tổng Thống và vợ rời khỏi phòng ba-lê sau hồi thứ nhất, và xuất hiện trước ống kính truyền hình, đưa ra một thông báo, tương tự như phát súng của chiến hạm "Rạng đông" — vợ chồng Pút-tin sẽ giải tán cuộc hôn nhân của mình.
Lý do chia tay, theo lời hai vợ chồng, là vì công việc của Tổng Thống, thứ mà thực tế đã chiếm hết thời gian của ông. "Bọn trẻ đã lớn, chúng tôi hầu như không nhìn thấy nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình," — Pút-tin và vợ, giờ đã thành vợ cũ, giải thích tóm tắt.
Muộn hơn, phát ngôn viên của Tổng Thống, Đmi-tờ-ri Pê-xkốp, đã làm rõ thêm, là thủ tục ly dị chính thức của nhà Pút-tin vẫn chưa được thực hiện. Pê-xkốp cũng nói, là ông không biết, vợ cũ của người đứng đầu nhà nước, tiếp theo sẽ dự định sống ở đâu.
"Đây đã là quyết định chung của chúng tôi, cuộc hôn nhân của chúng tôi đã kết thúc", — người đứng đầu nhà nước nói.
Đến lượt mình, Lút-mi-la Pút-tin-na cho biết, rằng đấy là "cuộc ly hôn văn minh". "Tôi không thích bị nhiều người để ý đến, và các chuyến bay thì hơi rắc rối đối với tôi. Chúng tôi rất yêu bọn trẻ, tự hào về chúng, và thường xuyên gặp chúng," — bà nói. Và như Vla-đi-mia Pút-tin đã làm rõ thêm, tiếp tục chủ đề con cái, "nền giáo dục các cháu nhận được ở nước Nga và luôn sống ở nước Nga." — (từng có tin đồn, là một trong các con gái của Tổng Thống đã định cư ở Hà-lan). "Chúng tôi sẽ vẫn mãi mãi là những người rất gần gũi. Tôi thật cảm ơn Vla-đi-mia Vla-đi-mia-rô-vích, vì ông ấy ủng hộ tôi." — Lút-mi-la Pút-tin-na nhấn mạnh.
"Theo cách nhìn của tôi, trên chính trường hôm nay, có những lập trường, mà được giả thiết là phải che dấu mọi chuyện tới cùng. Thực chất, dám sử xự một cách ngay thẳng và như một người đàn ông, ra đi và không trách cứ thê tử, và làm mọi chuyện theo một cách văn minh, chân tình và công khai — đấy là lập trường của một chính trị gia mạnh mẽ. Cách sử xự này nói lên tính cách của ông ấy là một người sẵn sàng nói chuyện với người khác", — nhà bình luận A-bda-lốp (Tin tức RIA) nói.
A-bda-lốp cũng lưu ý lại, là Thủ Tướng Đức Angela Merkel cũng đã đưa ra một quyết định tương tự. "Tình hình trên thế giới đã trở nên cởi mở hơn, cử tri đánh giá cao sự ngay thẳng." — A-bda-lốp nói thêm.
Theo các nhà phân tích, chuyện này sẽ không ảnh hưởng nghiêm trọng đến chỉ số tín nhiệm của ông Pút-tin. "Đời sống riêng tư có một phần trọng số không lớn, trong các bảng chỉ số đánh giá bầu cử nó chiếm một phần trăm không lớn." — A-bla-dốp kết luận tóm tắt.
Vla-đi-mia Pút-tin và Lút-mi-la Pút-tin-na cưới nhau ngày 28 tháng 7 năm 1983. Lút-mi-la Pút-tin-na, theo chuyên môn được đào tạo, là một nhà ngữ văn. Gia đình có hai con gái — Ma-ri-a (sinh năm 1985) và Ê-ka-tê-rin-na (sinh năm 1986 ở Cộng hòa Dân chủ Đức).