Hòn đảo của bác sĩ Moreau (32)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

XVII. Thảm họa.

Vừa vặn sáu tuần đã trôi qua trước khi tôi đã đánh mất mọi cảm giác ngoại trừ sự không thích và sự ghê tởm đối với cuộc thí nghiệm ô nhục này của của Moreau. Ý định độc nhất của tôi đã là rời khỏi những bức biếm họa kinh khủng này của trí tưởng tượng của Tạo hóa của tôi, trở lại với sự giao thiệp ngọt ngào và lành mạnh của mọi người. Những sinh vật-đồng chí của tôi, mà tôi đã bị tách riêng ra như thế khỏi họ, đã bắt đầu khoác một tính cách tốt và vẻ đẹp bình dị trong trí nhớ của tôi. Tình bạn lúc ban đầu của tôi với Montgomery đã không tăng. Sự cách ly dài của anh ấy khỏi thế giới loài người, thói say rượu bí hiểm của anh ấy, sự đồng cảm rành rành của anh ấy với những Người-Thú, đã làm hỏng anh ấy trước mắt tôi. Vài lần tôi để anh ấy đi một mình với chúng. Tôi đã tránh sự giao thiệp cùng với chúng bằng mọi cách có thể. Tôi đã dành một tỷ lệ ngày càng tăng thời gian của tôi ở trên bãi biển, tìm kiếm một cánh buồm giải phóng nào đó cái đấy chưa bao giờ xuất hiện, - cho đến một ngày đã rơi xuống đầu chúng tôi một thảm họa kinh khủng, cái đấy đã phủ một diện mạo hoàn toàn khác biệt lên mọi thứ lạ lùng quanh tôi.

Đấy là khoảng bảy hoặc tám tuần sau khi tôi đến đây, - chắc nhiều hơn một chút, tôi nghĩ, mặc dù tôi cũng không bận tâm để đếm thời gian, - lúc thảm họa này đã xảy ra. Nó đã xảy ra vào buổi sáng sớm - tôi phải nghĩ là vào khoảng sáu giờ. Tôi trở dậy và ăn sáng sớm, bị khuấy động bởi tiếng ồn của ba Người-Thú mang gỗ vào khu có hàng rào.

Sau bữa sáng tôi đã đi tới cổng vào đang mở của khu có hàng rào, và đã đứng ở đó hút một điếu thuốc lá và thưởng thức không khí tươi mát của buổi sáng sớm. Moreau ngay lập tức đã vòng đến góc khu hàng rào và đón chào tôi. Ông ấy đã vượt qua tôi, và tôi đã nghe ông ấy ở phía sau tôi mở cửa và bước vào phòng thí nghiệm của ông. Tôi đã cứng hết cả người lại vào lúc đấy vì sự kinh tởm chỗ đấy, chỗ mà tôi đã nghe một cách vô cảm một con báo nạn nhân bắt đầu bị hành hạ vào một hôm khác. Nó đã gặp kẻ hành hạ nó cùng với một tiếng rít, hầu như chính xác như tiếng như vậy của một người đàn bà lăng loàn giận dữ.

Rồi bất ngờ một cái gì đó đã xảy ra, - tôi không biết cái gì, cho tới tận hôm nay. Tôi đã nghe một tiếng thét ngắn, sắc nét ở đằng sau tôi, tiếng ai đó ngã, và quay lại đã thấy một gương mặt đáng kinh sợ xô vào tôi, - không phải con người, không phải động vật, mà là một thứ tối tăm, màu nâu, với những đường khâu cùng với những cái sẹo nhánh màu đỏ, những giọt đỏ chảy ra ở trên nó, và những con mắt không có mí sáng bừng bừng. Tôi đã vung cánh tay để bảo vệ mình từ cú đánh cái đấy đã ném tôi cắm đầu xuống với một cẳng tay bị làm gãy; Và quái vật to lớn, băng bó trong vải xô và với những mảnh băng bị biến màu đỏ vẫy cánh xung quanh nó, nhảy qua tôi và chạy đi. Tôi đã lăn lông lốc xuống bãi biển, đã cố ngồi dậy, và đã gục xuống trên cánh tay bị gãy. Lúc đó Moreau đã xuất hiện, cả gương mặt trắng đồ sộ của ông ta trông càng kinh khủng hơn vì máu đã chảy nhỏ giọt xuống từ trên trán. Một tay ông ta cầm khẩu súng lục. Ông ta đã liếc về phía tôi một cái, nhưng đã lao đi ngay lập tức để đuổi theo con báo.

Tôi đã thử dùng cánh tay khác và đã ngồi dậy. Hình dạng quấn vải băng ở phía trước đã chạy với những bước nhảy cóc dài vãi hàng dọc theo bãi biển, và Moreau đã bám theo nó. Nó đã ngoảnh đầu lại và đã thấy ông ta, rồi tăng tốc và đột ngột lao vào những bụi rậm. Nó đã bỏ rơi ông ta bằng mỗi bước chân dài. Tôi đã thấy nó rúc vào bụi, và Moreau, chạy bị lệch đi để chắn đường nó, đã nổ súng và bắn trượt đúng lúc nó biến mất. Rồi ông ta cũng đã biến mất trong sự hỗn độn màu xanh lá cây. Tôi đã nhìn chằm chằm đằng sau họ, và rồi cơn đau trong cánh tay tôi đã dội lên, và cùng với một tiếng rên rỉ tôi đã loạng choạng trên hai chân. Montgomery đã xuất hiện trong khung cửa, đã mặc đồ, và cùng với khẩu súng lục ổ quay của anh ấy trong tay.

"Chúa vĩ đại, Prendick!" Anh ấy đã nói, không nhận ra là tôi đã bị thương, "Con súc vật này đã thoát! Đã giằng đứt cái gông ra khỏi bức tường! Anh đã thấy họ?" Rồi đột ngột, thấy tôi kẹp chặt cánh tay, "Chuyện gì thế này?"

"Tôi đã đứng trong khung cửa," Tôi nói.

Anh ấy tiến về phía trước và cầm lấy cánh tay tôi. “Máu trên tay áo," anh ấy nói, và đã sắn tay áo vải flanen. Anh ấy đút vũ khí của anh ấy vào bao, sờ nắn tay tôi xem tôi bị đau chỗ nào, và dẫn tôi vào trong. "Tay anh đã bị gãy," anh ấy đã nói, và sau đấy, "Nói với tôi chính xác như thế nào nó đã xảy ra - cái gì đã xảy ra?"

Tôi đã kể với anh ấy cái tôi đã thấy; kể với anh ấy bằng những câu rời rạc, với hơi thở hổn hển vì đau xen vào giữa chúng, và rất khéo léo và mau lẹ anh ấy băng bó cánh tay tôi trong lúc đó. Anh ấy đã quàng nó từ bờ vai của tôi, đã đứng lại và nhìn vào tôi.

"Anh sẽ ổn," anh ấy nói. "Và bây giờ?"

Anh ấy nghĩ ngợi. Rồi anh ấy đi ra và khóa những cánh cổng khu hàng rào lại. Anh ấy vắng mặt một khoảng thời gian.

Tôi chủ yếu là đã bận tâm về cánh tay tôi. Việc xảy ra đã hóa ra là chỉ đơn thuần thêm một trong nhiều thứ kinh khủng. Tôi đã ngồi xuống trong ghế tựa dài, và tôi phải nhận là tôi đã chửi bới hòn đảo một cách thật lòng. Cảm giác đần độn đầu tiên của sự tổn hại trong cánh tay tôi sẵn đã đưa đến một sự đau đớn cháy bỏng khi Montgomery đã xuất hiện lại. Gương mặt của anh ấy đã nhợt nhạt hẳn đi, và những chiếc răng hàm dưới đã phô ra hơn bao giờ hết.

"Tôi không thể nhìn thấy hoặc nghe thấy bất cứ thứ gì từ ông ấy," anh ấy nói. "Tôi nghĩ ông ấy có thể muốn sự giúp đỡ của tôi." Anh ấy đã nhìn chằm chằm vào tôi cùng với những con mắt ngây ra. "Đấy đã là một con thú khỏe," anh ấy nói. "Nó đơn giản là đã vặn mạnh cái cùm của nó khỏi bức tường." Anh ấy đã đi tới cửa sổ, sau đấy tới cánh cửa, và ở đó đã quay về phía tôi. "Tôi sẽ đi theo ông ấy," anh ấy nói. "Có một khẩu súng lục nữa tôi có thể bỏ lại cho anh. Nói thật với anh, tôi cảm thấy lo lắng thế nào đó."

Anh ấy đã lấy được vũ khí, và đưa nó sẵn sàng tới tay tôi trên bàn; rồi đã đi ra, bỏ lại một sự u ám không ngừng trong không khí. Tôi đã không ngồi lâu sau khi anh ấy đi, mà đã cầm khẩu súng trong tay và đi tới khung cửa.

(to be cont.)

Phúc Âm

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook


PHÚC ÂM
của Thánh Matthew



Chúa Giê-xu đã chọn một người có vẻ ít triển vọng nhất để làm tông đồ của mình, Matthew - một người thu thuế bị nhiều người ghét, kẻ làm việc cho đế quốc La-mã.

“Lúc chúa Giê-xu đi qua từ chỗ đó, Người trông thấy một người tên là Matthew đang ngồi trong phòng thu thuế. Người bảo anh ta, "Đi theo ta." Anh ta bèn đứng dậy và đi theo Người.” - [Matthew 9:9]

Không như nhiều tông đồ khác (đã là những người đánh cá lành nghề), Thánh Matthew thông thạo với cây bút và với việc kê khai các sự việc và các mẫu hình. Papias, một trong những sử gia tôn giáo đầu tiên, đã ghi chép lại: "Thánh Matthew đã góp nhặt những lời nói của Chúa Giê-xu bằng tiếng Do Thái."

Thánh Matthew tác giả Phúc Âm đã viết khoảng 1068 đoạn. Trong khi Thánh Mark tác giả Phúc Âm đã viết khoảng 661 đoạn để tập trung vào các “sự kiện" trong cuộc đời Chúa Giê-xu và các tông đồ, thì Thánh Matthew tập trung vào nội dung những lời dạy của Người.

Thánh Matthew đã viết Phúc Âm khi nào? Một thời gian nào đó vào một phần tư cuối cùng của thế kỷ đầu tiên, có vẻ như trong khoảng từ năm 85 đến năm 105 sau Công nguyên.

Thánh Matthew chịu trách nhiệm về bộ sưu tập đầu tiên hay cuốn sách kim chỉ nam trong việc truyền giảng của Chúa Giê-xu. Ghi chép của ông về việc truyền giảng của Chúa Giê-xu đã được sắp xếp làm năm phần, tập trung vào Thiên Giới của Chúa Trời:

(1) Thuyết giảng trên Núi hoặc Nguyên tắc Thiên giới gồm các chương 5-7.

(2) Các chỉ dẫn có tính chất truyền giáo của Người cho các môn đồ về những phận sự của những người hướng dẫn của Thiên Giới trong chương 10.

(3) Những ẩn ngôn của Thiên Giới trong chương 13 .

(4) Những chủ đề về “sự vĩ đại” và “sự tha thứ” ở Thiên Giới trong chương 18.

(5) "Việc Vua đến" trong các chương 24-25.

Phúc Âm của Thánh Matthew đã được xếp hàng đầu trong kinh sách của Kinh Tân Ước, không phải vì nó đã được viết đầu tiên, một số những ghi chép của Thánh Paul và Phúc Âm của Thánh Mark đã được viết từ trước đấy, mà vì nó là một chiếc cầu nối giữa Kinh Cựu Ước và Kinh Tân Ước. Tâm điểm và luận cứ trong 28 chương của Thánh Matthew là nhằm làm cho những người Do Thái tin rằng Giê-xu là Chúa Cứu Thế của họ, Đức được xức dầu Thánh, Đức Ki-tô, Con Trai của Chúa Trời và người sáng lập Thiên Giới. Bản ghi của Thánh Matthew dùng từ “Thiên Giới” 50 lần, và “Thiên Đường" 32 lần.

Ghi chép của Thánh Matthew nhấn mạnh quyền lực thần thánh của Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu nói với thánh Peter, "Ta sẽ đưa cho anh những chiếc chìa khóa của thiên đường, và bất kỳ thứ gì anh trói buộc trên mặt đất sẽ bị trói buộc trên thiên đường, và bất kỳ thứ gì anh cởi bỏ trên mặt đất sẽ được cởi bỏ trên thiên đường" - [Matthew 16:19]. Những lời cuối cùng của Chúa Giê-xu nói với các tông đồ của Người cũng nói về quyền lực đế vương của Người trên tất cả: "Tất cả quyền lực trên thiên đường và trên mặt đất đã được trao cho ta. Cho nên hãy đi và truyền dạy cho các tông đồ ở tất cả các quốc gia... Hãy dạy họ làm theo tất cả những gì ta đã truyền đạt cho các anh; và hãy nhìn, ta luôn ở bên các anh..." - [Matthew 28:18-19] Thánh Matthew dùng từ ngữ "tất cả" bốn lần trong chỉ một đoạn này. Thánh Matthew cũng thể hiện quyền lực của Chúa Giê-xu đối với thiên nhiên bằng những phép mầu của Người, quyền lực của Người đối với tội ác bằng việc tha thứ cho những tội ác, và quyền lực của Người đối với cái chết bằng sự phục sinh của Người.

Thiên tượng (18)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tối đen, hình như anh đã đưa một bàn tay ra trước mắt để nhìn, và không nhìn thấy gì; có phải thế không, hay đấy, chuyện đưa bàn tay và tối đen, và không nhìn thấy, là hình ảnh nhìn thấy trong lúc như lúc đang ngủ, như là đang mơ? Mà anh dường như lại ý thức được là mình ý thức được là đã xảy ra chuyện gì đó, mà như thế cho nên đây không phải là mơ; thế thì là gì, nếu không phải mơ? Chả nhẽ..?..!

Cơn đau dội lên, đau lắm, lúc anh lại định đưa tay ra trước mắt để thử nhìn tiếp, tay kia; lúc đấy anh vừa cảm thấy rất đau, vừa vẫn có ý nghĩ kèm theo đấy là “mặc dù mình chịu đau giỏi hơn nhiều người khác”; nếu nằm mơ có đau thế không? Anh nhớ là có thể có, nhưng đau kiểu như thế, thường sẽ phải tỉnh, tức là chuyển sang một trạng thái khác hẳn. Anh chờ một tí, nhưng không thấy có gì chuyển cả. Thế thì đúng là không phải mơ rồi. Chả nhẽ...?..!

Hình như lúc đau quá đấy anh đã nói gì đó, anh đoán thế thôi, vì thấy cổ còn rát bỏng, so với trước đấy, trước lúc đau, chứ cũng không nghe thấy tiếng mình. Đúng lúc anh đang đoán già đoán non thì thấy có cái gì đấy khẽ đập nhẹ lên má mình, nhẹ lắm, rồi từ chỗ vừa đập vào nó lại bò đi, làm anh thấy hơi buồn buồn. Anh đang đoán thì lại thấy có một cái khác cũng đập như thế, vào chỗ khác ở má, ngay cạnh chỗ vừa xong, rồi lại bò buồn buồn… Xong rồi anh nghe thấy tiếng thật, không phải đoán, không phải tiếng anh, nhưng chập chờn thế nào đó, có nhắc đến tên anh, tên anh là Đào Phi. Một cách vô thức, anh đưa tay về phía mà anh nghĩ là có tiếng, và anh lại nhìn thấy pháo hoa bắn; “lại”, vì anh nhớ là lúc trước anh cũng vừa trông thấy pháo hoa, mới vừa đây thôi. Cơn đau nhói buốt xộc lên dữ dội, và lúc đấy anh nghe thấy, rõ ràng nghe thấy, tiếng mình, không thành câu chữ, từ ngữ gì cả, tức là rên lên; “tệ quá”, anh còn nghĩ thế vì thấy mình rên; và đúng lúc đó đã có cái gì đó chợt thay đổi, có cái gì đó bỗng được bật sáng lên, giống như bật điện trong phòng.

Anh hốt hoảng, cơn đau vẫn còn âm ỉ ở phía bên trái khiến anh ý thức được, quờ quạng bàn tay phải, gọi: “Linh!.. Linh ơi!..”, và, rất kỳ lạ trong hoàn cảnh ấy, anh bỗng cảm thấy một cảm giác gì đấy sung sướng tràn ngập, giống như… không biết có giống như hạnh phúc hay không, vì đúng lúc bàn tay anh chạm phải cái gì đó mềm mềm, thì anh nghe thấy, gần lắm, ngay bên tai, giọng nói, không hiểu sao nghe rất quen, quen lắm, thân thuộc lắm, như là đã quen từ rất lâu: “Em đây…”

Ý thức của anh chắc đã trở lại đầy đủ. Bàn tay anh đang đặt lên ngực cô, anh vừa định chuyển nó lên vai cô, thì cô đã ấp bàn tay cô lên, và giữ nó ở đấy. Một chút thôi, rồi anh mới rút tay ra, sờ soạng xuống nền đá mà anh cảm thấy lạnh lạnh ở dưới lưng.

- Anh… đây là đáy vực mà… anh đã rơi thẳng xuống đây à? - Anh hỏi, bất giác chăm chú nghe ngóng để tìm thêm chỗ gãy ở trong người, nhưng ngoài chỗ đau bỏng rát ở cánh tay trái, thì hình như không còn chỗ nào nữa. - Vậy em… em… làm sao xuống được đây? - Bàn tay anh cuống quít sờ vai, sờ cánh tay, rồi cố ôm qua để sờ lưng cô…

- Không, anh rơi vào chân vách đá ở trên Bạch Hổ Kiều…

- Vậy…

- Em tự trèo xuống, và đưa anh xuống đây.

- Hả?.. - Bất giác anh nhổm phắt ngay dậy, cánh tay trái lại đau dội lên, anh không kìm được, khẽ rên; cô vội đưa tay đỡ anh, chắc muốn giúp anh nằm lại, nhưng anh đã đặt tay lên vai cô, rồi, định ra hiệu, nhưng nhớ ra là cô chưa chắc sẽ nhìn thấy, vỗ nhẹ nhẹ.

- Em đã…

- Khoan, từ từ… - anh vội vàng, thấy đầu óc hoàn toàn tỉnh táo, và cả người đều ổn, chỉ trừ tay trái, mặc dù tay này rất đau, anh đang rất vui, - để anh đoán.

- …

- Em… em buộc anh vào một sợi đôi của anh. Em vừa tụt vừa nắm… Không… Em tự tụt xuống. Rồi… đúng rồi, rồi dòng dọc anh xuống.

- Vâng.

- Ừ, cũng chỉ còn mỗi cách đấy, hoặc là phải chờ… sao em không chờ anh tỉnh dậy ở trên đấy?

- Em sợ… như anh nói… là ở dưới này ổn… ổn định hơn.

- Ừ. Mà… nhưng… làm sao em buộc được anh vào sợi dây đấy?

- Em… em quấn một vòng quanh người anh rồi… anh làm gì thế?.. - Cô cười, khẽ ngọ ngoạy, dướn dướn người, vì trong lúc cô nói, thì anh thò bàn tay sờ soạng kiểm tra khắp khu vực eo lưng cô.

- Em cởi dây ở hông của em ra để buộc anh. Vậy… em trèo xuống theo cách anh dạy… lúc đầu?

- Vâng. Lúc xuống được Bạch Hổ Kiều, thì tụt dây cũng quen rồi, em không… không lóng ngóng nữa…

Tiếng “nữa…” anh nghe ngay sát bên tai bên trái vì lúc đấy anh đã vòng cánh tay không đau ôm sát cô vào mình, nghe thấy cô sụt sịt, anh khẽ vỗ vỗ. Bỗng anh sực nhớ ra, bây giờ mới sực nhớ, anh lại ngồi thẳng lại, hỏi:

- Còn cậu Kiên..?

- Anh ấy… anh ta…

- Anh ấy.

- Vâng, anh ấy dừng lại kịp lúc… nên lúc đấy không sao. Nhưng thấy anh rơi xuống, hình như anh ấy lại định tụt xuống, nhưng anh Duy đã giữ anh ấy lại. Em thấy họ giằng co nhau, và thấy anh vẫn… vẫn… còn thở, và tình huống lúc đấy… nên em hét lên với họ là anh không sao.

- Em làm đúng lắm. - Anh đưa lưng mấy ngón tay tìm gò má cô, cà cà vào đấy, khen.

- Anh ơi.

- Ơi.

- Tay anh..?

- Vẫn còn đau thôi, chắc… không sao. Túi mình đâu?

Anh nói cứng thế. Lúc bật đèn pin lên để dựng căn lều leo núi mi-ni khum khum, chỉ đủ cao hơi quá đầu một người ngồi bệt và đủ dài rộng để hai người chui vào túi ngủ có thể ngủ không duỗi thẳng chân, anh vẫn không để ý. Chỉ đến lúc đã chui vào trong lều, bật dàn đèn đi-ốt lên và xem xét, anh mới thật sự ý thức được tình trạng cánh tay của mình.

“Anh ơi…” Cô bật khóc trở lại.

Lợn sữa quay trông như thế nào thì cánh tay anh, từ gần sát khuỷu tay trở xuống, trông giống y như thế. Ý nghĩ so sánh ấy tự động đến ngay làm anh vừa sợ, vừa hơi buồn cười, vừa bất giác tự tìm cách nâng cánh tay mình lên ngửi ngửi, rồi lại tự thấy tởm tởm vì cái động tác ấy. Anh lấy ngón tay phải khẽ chạm vào, rồi gõ gõ nhẹ. Không cảm giác. Nó giống như một lớp vỏ cứng, ý nghĩ lại tự đến trong đầu anh, là nó giòn tan, thậm chí tai anh hầu như nghe thấy tiếng mình nhai, mũi mình ngửi thấy mùi bì giòn thơm phức, và mắt mình nhìn thấy lớp mỡ trắng mềm mềm, béo ngậy; rồi anh lại thấy tởm. Anh thử cố vận động các cơ bên trong. Cơn đau lại dội lên, nhưng vì tự chủ động, nên anh không để bị đau như mấy lần trước, chỉ hơi nhăn mặt. Cổ tay, các ngón tay đều nằm im lìm, như tay tượng; ý nghĩ lại tự động đến, lần này là hình ảnh những chiếc chân gà nướng, làn khói xanh thơm khen khét, những lát dưa chuột ngâm dấm còn nguyên vỏ xanh..; mà lần này anh đã quen, nên không còn thấy tởm. Nhưng anh cảm giác là chúng nằm im lìm như thế không phải vì anh không chủ động co kéo được chúng từ bên trong, mà tại vì lớp “vỏ” cứng quá, giống như là bó bột. Cái đấy thực ra, anh hiểu, là giống với hy vọng, hơn là cảm giác. Cho nên anh biết mặt mình vẫn tái đi, và trong đầu anh đã tự động xuất hiện ý nghĩ là kể cả là mất nửa cánh tay đấy, thì cũng đếch sao, bất quá không đánh được đàn, còn dùng máy tính sẽ bất tiện hơn..; thậm chí còn chi tiết đến thế.

“Để mai xem, có khi phải chặt.” Anh nghĩ, rồi bảo cô: “Kệ nó, bất quá…” Anh bỏ dở câu nói, thực sự không nghĩ là có thể trấn an cô, nên cũng không làm thế.

Buổi sáng ngủ dậy, chắc muộn hơn bình thường, anh cảm thấy rất dễ chịu. Anh hơi lạ về sự dễ chịu đấy, anh vẫn nhớ, thậm chí vừa tỉnh dậy thì cái đầu tiên anh lập tức nghĩ ngay đến là khúc tay có thể bị mất, nhưng mặc kệ, cảm giác dễ chịu vẫn thế. “Lúc bình thường thì lại dễ khó chịu, nhưng chỉ cần bị đau, thì chỉ cần bình thường, thì đã dễ chịu lắm rồi, thậm chí, chưa cần phải bình thường… cú thật… chỉ cần không đau nữa... Chắc thế. Nhất đau mắt, nhì nhức răng… nhức hay là giắt nhỉ, phải là giắt mới vần…”

Anh vừa nghĩ lung tung vừa ngắm cô. Cô vẫn đang ngủ say, thở đều đều, mặt thò ra khỏi túi ngủ, nhọ nhem, có những vết quệt qua quệt lại. Hôm qua chắc cô không ngủ được ngay; ừ, một ngày như thế. Cánh tay đau anh phải thò ra để ở ngoài túi ngủ, may mà trời không lạnh. Bây giờ không đau, chả cảm thấy gì cả, chắc chỉ còn là khúc thịt chín; ý nghĩ lại chợt đến ngay, nó đang tính toán lựa chọn chỗ để chặt tay anh, nó đang tính là phải chặt quá lên chỗ còn nguyên lành ngay trên đấy; rồi nó soát trong đống vật dụng mà anh mang theo để tìm một thứ phù hợp nhất, đủ sắc để làm việc đấy; thậm chí nó đã tính đến cả việc sẽ chọn vật gì để cắn vào răng, để không cắn vào lưỡi nếu đau không chịu được; tởm quá. Bất giác, anh hơi nghển cổ ngắm nghía khúc tay mình đang để trên lớp vải bóng bị chần những đường ngang cách đều khoảng hơn nửa gang tay, hơi phồng phồng, của chiếc túi ngủ có hình dạng như cái kén, không chủ định, nhưng lại đúng màu tơ tằm luôn.

“Kệ mẹ nó…” Anh thở dài, lại nằm xuống, quay lại, thì thấy cô cũng đang nhìn tay anh. Anh đoán là cô đã nghe thấy anh thở dài, nên lúc mắt cô ngẩng lên nhìn anh, thì anh cười vui vẻ: “Hết đau hẳn rồi…” Lúc đấy, dù là thở dài, thở dài thật, nhưng anh đã xác định xong là mất nửa cánh tay, hoàn toàn không còn lăn tăn nữa, nên anh vui vẻ thật chứ không phải là cố vui để cô yên tâm, cười là cười thật, nên nói thế rồi, và nhìn thấy là cô không tin, thì anh, mặc dù chưa thử nhưng ý nghĩ trong đầu đã tức thời suy luận ngay một cách đơn thuần máy móc là khớp ở khuỷu tay vẫn còn làm việc tốt, đã cố co khuỷu tay, nhấc nửa cánh tay ấy lên và, một cách có ý thức, cố dùng lực từ chỗ khuỷu tay để xoay qua xoay lại nó, để cho cô xem, miệng bảo: “Em nhìn xem…”

“May quá, không đau, nó chín hết rồi…” Anh đang nghĩ thế, và thấy phấn khởi vì màn trình diễn thành công, thì giật mình vì bỗng thấy ánh mắt cô giật mình…

Anh vội nghển cổ, tự nhìn lại tay mình, và, mắt chăm chú, cố giữ nguyên cánh tay đau, anh nhổm người, chống khuỷu tay kia, nửa nằm nửa ngồi.

Chỗ “giòn bì” ở cổ tay trái đã bị nứt ra, anh khẽ xoay xoay thử cổ tay ấy. Không thấy đau, và chỗ đấy lại nứt ra tiếp. Anh mạnh dạn thử co nhẹ bốn ngón tay, trừ ngón cái. Cũng không đau, và “giòn bì” ở các khớp cũng nứt. Anh thở “phù”, nhắm tịt mắt lại, vài giây, rồi mở phừng mắt ra, nhíu mày, môi bặm lại, vận sức, nắm chặt nắm tay trái lại, đồng thời gồng cả cánh tay, xoay cổ tay về phía trong, nửa vòng.

Hoàn toàn không đau, và “giòn bì” nứt thêm ở một số chỗ.

Anh phấn khởi ngồi hẳn dậy, rồi, vẫn thận trọng, lấy tay phải gõ nhè nhẹ, thăm dò khắp lượt, xong rồi, mặt tươi hơn hớn, mắt chắc là sáng long lanh, nhìn cô một cái, cô đã chui ra khỏi túi, ngồi nhổm bên cạnh, chăm chú xem, rồi thong thả đưa tay phải, lựa theo những chỗ đã nứt, cẩn thận bóc từng mảnh bì “lợn sữa quay” ra, lúc giữa chừng, phấn khởi quá, còn dí một mảnh to vào gần mũi cô, cô vừa cười, vừa nhăn nhăn mặt mũi, né ra một tí, rồi nhoài người, thơm vào má anh, anh vội ấn thêm má vào môi cô.

Nửa cánh tay mới, trắng nõn, những móng tay mới, hình như vẫn còn chưa dày hết cỡ, trong trong. Anh xo vai, để nó gần như song song với cánh tay cũ ở trước mặt, ngắm nghía, cười phị phị, hơi rung cả người, vì thấy một cái trông như của ta, còn một cái, cái mới, thì trông y như của tây, trắng hồng, nuột nà. Bỗng ánh mắt anh hơi đọng lại một chút, một chút thôi, vì đã có một ý nghĩ chợt đến, nhưng anh đã đặt ngay nó sang một bên, cứ để đấy đã.

Hứng chí, anh thò cánh tay mới định sờ má cô. Cánh tay thò vào khoảng không. Cô đã không còn ở đấy. Anh vừa nhổm người định chui ra khỏi lều thì đã nghe thấy cô kêu lên, từ bên ngoài, thất thanh.

(Còn nữa)

Ngài Người Chơi Lục Lạc

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Bob Dylan - Mr. Ta...



...
Này, ngài Người Chơi Lục Lạc, hãy chơi một khúc hát cho tôi
Tôi không buồn ngủ và không có nơi nào tôi định tới
Này, ngài Người Chơi Lục Lạc, hãy chơi một khúc hát cho tôi
Trong buổi sáng vang tiếng leng keng tôi sẽ tới kế sau ông.

Hãy đưa tôi đi khỏi qua những vòng khói của tâm trí tôi khi đó,
Theo những tàn tích mờ sương của thời gian
Vượt xa khỏi những chiếc lá đông cứng, những cái cây ma quái hãi hùng
Ra ngoài cái bãi biển lộng gió
Cách xa khỏi tầm với xoắn xít của nỗi buồn đau điên dại
Để khiêu vũ dưới bầu trời nạm kim cương với một bàn tay vẫy tự do
Để được in bóng bởi biển cả, được vây quanh bởi dải cát tròn
Với tất cả ký ức và số phận vùi sâu dưới những con sóng
Để tôi quên đi hôm nay tới tận hôm mai.

Bob Dylan

Chú rể

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Người đàn ông với cái mũi tim tím đi lại phía cái chuông và miễn cưỡng rung chuông. Đám đông từ nẫy đến giờ đứng im bất động bỗng nháo nhào chạy ngược chạy xuôi. Những chiếc xe chở hành lý chạy rầm rầm trên sân ga. Người ta bắt đầu chằng dây trên các toa tàu. Đầu tàu rít lên một tiếng nghe đến chói tai rồi nối vào các toa. Xa xa ở đâu đó có người làm rơi một cái chai đánh xoảng... Mọi người chào tạm biệt nhau, nghe thấy những tiếng nức nở và cả giọng nói thì thầm của những người phụ nữ...

Trước cửa một toa hạng hai có một đôi trai gái đang từ biệt nhau. Cả hai đều khóc.

- Tạm biệt, em yêu của anh? - Chàng trai vừa nói vừa hôn vào mái tóc bạch kim của cô gái. - Tạm biệt? Anh buồn quá! Anh sẽ không chịu nổi mất... Vậy là anh phải xa em những một tuần. Đối với trái tim kẻ đang yêu thì một tuần ấy dài bằng một thế kỷ, em biết không? Tạm biệt... Lau nước mắt đi em, đừng khóc nữa...

Hai hàng nước mắt của cô gái giàn giụa khắp mặt, có một giọt nước mắt rơi vào môi chàng trai.

- Tạm biệt Varia thân yêu! Cho anh gửi lời thăm mọi người. À quên, nhân tiện anh dặn này, nếu em gặp anh Mac-cốp thì đưa cho anh ấy 25 rúp hộ anh nhé.

Chàng trai moi từ trong túi ra tờ 25 rúp và đưa cho Varia.

- Em cố gắng trả giúp anh nhé. Anh nợ anh ý mà. Trời ơi anh chẳng muốn xa em chút nào cả...

- Đừng khóc anh Pêchia! Thứ 7 này nhất định em sẽ về với anh. Anh sẽ không quên em chứ? - Mái tóc bạch kim của cô gái Varia ngả vào ngực Pêchia.

- Quên ai? Quên em ư! Chẳng lẽ anh lại có thể quên được em ư?

Tiếng chuông thứ hai đã vang lên. Pêchia ôm chặt Varia vào lòng, khẽ chớp mắt rồi khóc nấc lên như một đứa trẻ. Varia vít lấy cổ anh và cũng thổn thức theo. Hành khách lục tục lên tàu.

- Tạm biệt! Em thương! Người yêu! Một tuần nữa!

Chàng trai hôn Varia lần cuối và ra khỏi toa tàu. Anh đứng cạnh cửa sổ và lấy từ trong túi ra chiếc khăn, để bắt đầu vẫy... Varia đăm đắm nhìn vào khuôn mặt anh bằng cặp mắt ướt của mình...

- Mời tất cả mọi người lên tàu thôi - ông trưởng tàu ra lệnh - Chuông thứ 3 bây giờ đấy.

Hồi chuông thứ 3 đã gióng lên. Pêchia vẫy khăn tạm biệt người yêu. Bỗng nhiên mặt anh đờ ra. Anh đập tay lên trán đánh độp và nhảy lên toa tàu như một kẻ mất trí.

- Varia - chàng trai hổn hển không ra hơi, - anh vừa đưa cho em 25 rúp để trả Mac-cốp ấy mà, em yêu ơi, cho anh xin cái giấy biên nhận. Mau lên! Giấy biên nhận là em đã cầm 25 rúp ấy mà? Trời ơi, làm sao tôi có thể quên một việc hệ trọng như thế kia chứ?

- Muộn rồi anh ơi? Tàu bắt đầu lăn bánh mất rồi.

Đoàn tàu chuyển bánh. Chàng trai nhảy bổ xuống sân ga, khóc nấc lên và giơ khăn tay lên vẫy.

- Thế nhớ gửi cho anh giấy biên nhận qua đường bưu điện nhé! - Anh chàng hét với theo đoàn tàu.

"Mình đúng là một thằng ngốc mẫu mực! - Anh chàng nghĩ, khi đoàn tàu đã đi khuất khỏi tầm nhìn. - Đưa tiền mà không biên nhận! Hả? Sơ suất quá, đúng là trẻ con! (Thở dài.) Đến nơi rồi, chắc thế, sắp đến nơi rồi... Người yêu ơi!"

A. P. Tchekhov

Dấu chấm than

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Yefim Formich Perekladin, một viên chức khả kính đi nằm với một tâm trạng vô cùng bực tức, thậm chí ông như phát khùng lên khi vợ ông hỏi có chuyện gì mà lại khó chịu đến vậy, ông gầm lên, hét thẳng vào mặt vợ: “Giời ạ, đừng có mà ầm lên như thế, đồ quỉ già!”.

Sự thể là ông vừa mới trở về từ một buổi tiệc ồn ào mà ở đó, mọi chuyện cứ như chỉ nhằm vào có mỗi một mình ông, làm ông vô cùng ấm ức mà chẳng thể làm gì!

Lúc đầu, họ ngồi với nhau trò chuyện chung chung về vấn đề giáo dục. Nhưng dần dần họ chuyển sang bàn tán về chất lượng đào tạo của các viên chức hành chính trong bộ, mà cũng như ông, chẳng được bài bản cho lắm. Từ đó, họ đưa ra những nhận xét châm chọc, mỉa mai, rồi họ cười khẩy đầy vẻ chế nhạo. Thế rồi, vẫn như người Nga thường làm khi nói chuyện về những chủ đề như vậy, họ mào đầu bằng những chuyện vô thưởng vô phạt để rồi ngay sau đó nhằm thẳng ngay vào một cá nhân cụ thể!

Một anh trẻ tuổi quay sang Yefim Formich Perekladin nói:

- Còn bác thì sao, bác Yefim Formich Perekladin? Bác đúng là một ví dụ đấy, bác cũng giữ một vị trí kha khá đấy chứ, phải không nào? một vị trí cũng khá quan trọng đúng không? nhưng bằng cấp của bác thì sao nhỉ?

- Ồ, không nhiều! - Ông trả lời cộc lốc. - Nhưng cậu biết đấy, chúng tôi đâu có cần bằng này bằng nọ, công việc của chúng tôi là làm sao viết cho đúng chính tả là được, chỉ cần có thế!

- Nhưng ở đâu dạy cho bác viết đúng chính tả, viết đúng ngữ pháp nào? - Anh trẻ tiếp tục.

- Ồ, cậu biết đấy, tôi vẫn học theo cách thông thường ấy mà, sau 40 năm làm một công việc gì đó thì chính cậu cũng sẽ trở thành một chuyên gia ngay thôi mà! Dĩ nhiên, lúc đầu cũng sẽ có khó khăn đấy, tôi cũng vậy, nhưng sau đó thì sẽ tìm ra một bí quyết nào đó, ai chả thế! - Ông đáp.

- Thế bác sử dụng dấu chấm câu như thế nào? - Anh trẻ hỏi.

- Dấu chấm câu ư? Chẳng có vấn đề gì cả, tôi dùng chúng một cách thuần thục!

- Hừ... - Anh trẻ tuổi im lặng một lát rồi tiếp tục - Nhưng làm mãi mới tìm ra một cách nào đó thì không phải do bằng cấp đúng không nào! Bác có thể chấm các dấu chấm câu rất đúng chỗ nhưng thế thì chưa đủ, bác phải hiểu tại sao bác lại làm như vậy. Nếu bác muốn đánh một dấu phẩy thì chí ít bác cũng phải biết tại sao lại là dấu phẩy mà không phải một dấu nào khác. Thưa bác, việc đánh dấu với bác chỉ là bản năng, chỉ là thói quen không hơn không kém, còn đâu là nguyên tắc của nó thì... đó chỉ là một hành động máy móc, bản năng!

Yefim Formich Perekladin chẳng nói được câu nào, cố mở ra một nụ cười gượng gạo (bởi vì anh trẻ lại là con trai một của một vị kha khá trong bộ, và chính anh cũng đang giữ một vị trí chắc chắn trong bộ giáo dục!). Nhưng giờ đây, khi đã về nhà mìmh, càng cố ngủ thì ông lại càng ấm ức, trằn trọc mà không tài nào ngủ được. “Mình đã làm việc được 40 năm - ông nghĩ - cho đến giờ vẫn chưa ai bảo mình là người ngốc ngếch, thế mà cái thằng nhóc này lại dám bảo mình như vậy, mình mà lại chỉ làm theo thói quen ư?, chỉ là “phản ứng có điều kiện” là “hành động máy móc” thôi ư? Ôi! Quỷ tha ma bắt anh đi! Đồ trứng khôn hơn vịt!.. Tôi biết những điều tôi làm hơn anh chứ, rõ ràng là như vậy mặc dù tôi chưa bao giờ thèm học ở cái trường chính quy của anh cả!”

Giờ đây, trong hơi ấm của chăn bông và sau khi đã rủa thầm cái anh chàng trẻ tuổi thích xoi mói bằng những lời lẽ thậm tệ nhất mà ông biết, ông cũng thấy hả giận phần nào và thấy như dễ chịu hơn. Ông vừa nghĩ ngợi vừa lẩm bẩm trong khi đã cảm thấy buồn ngủ: “Tôi biết... tôi hiểu chứ... tôi không bao giờ đặt một dấu hai chấm ở chỗ của dấu phẩy, đúng không nào... vì thế là tôi biết tôi đang làm gì chứ! Còn anh đấy, anh bạn trẻ, hãy cứ làm đi... hãy cứ sống thêm một ít nữa đi rồi anh sẽ tha hồ mà cạnh khóe lão già này..!”

Ông thấy bay ngang qua đôi mắt nhắm nghiền của mình trong bóng tối những cái dấu phẩy và cả những cái cười mỉa mai bay chập chờn trong một đám mây bụi, chúng lóe sáng như những vệt sao băng rồi bốc cháy. Cái thứ nhất... cái thứ hai... cứ thế hiện ra vô số những chiếc dấu phẩy nhấp nháy nhấp nháy, chập chờn bay lượn... “Cút hết đi, đồ chết tiệt”, Yefim Formich Perekladin rủa thầm trong đầu khi ông cảm thấy tay chân trở nên nặng nề, ông sắp chìm vào một giấc ngủ mỏi mệt... “Tôi biết quá đi chứ về những con dấu... tôi biết quá rõ về những con dấu... tôi sẽ nói cho anh rõ các con dấu khác nhau chỗ nào nếu anh muốn, tôi biết mình đang làm gì chứ chẳng phải ngẫu nhiên mà làm đâu! Kiểm tra đi, rồi anh sẽ thấy!.. Này nhé... dấu phẩy được đặt ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi chúng cần thiết, đôi khi không. Một tài liệu mà càng phức tạp thì anh lại phải dùng đến chúng càng nhiều. Chúng luôn đứng trước các đại từ chỉ định những khi ta không muốn nhắc lại trong câu những chữ như: “cái mà” “người mà”, v.v. và nếu anh có một danh sách các quan chức cần phải kể ra thì anh phải phân biệt người này với người kia bằng những dấu phẩy... tôi biết rõ như vậy đấy!”

Lại một con dấu phẩy vàng rực, hiện ra lượn lờ xoay tít rồi lại biến mất nhưng ngay lập tức, một con dấu chấm câu sáng lấp lánh hiện ngay ra... “Dấu chấm câu ư... anh phải đặt nó vào khi muốn kết thúc hoặc muốn một khoảng thời gian ngắn để ngừng lại lấy hơi và ngước lên nhìn vào những người đang nghe anh đọc. Sau tất cả các đoạn dài dài một tí, anh cũng phải dùng một dấu chấm, để khi cô thư ký đọc, cô ta sẽ không bị hụt hơi và nói lắp! Đấy, cách dùng dấu chấm câu chỉ đơn giản có thế!”

Những dấu phẩy như mạ vàng lại xuất hiện trở lại, chúng nhập vào với những dấu chấm rồi xoay tít mù, chập chờn, chập chờn... rồi sau đó Yefim Formich Perekladin lại nhìn thấy một lũ những dấu chấm phẩy và dấu hai chấm... “Tôi biết rõ những con dấu này”, ông nghĩ, “khi mà dấu phẩy không thể dùng được mà dấu chấm đã quá nhiều thì người ta sẽ dùng đến dấu chấm phẩy, mình luôn đặt dấu chấm phẩy trước “nhưng” và “vì thế”. Còn dấu hai chấm thì sao? Thì chúng luôn được đặt trước những từ đại loại như một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó...” Những dấu chấm phẩy và hai chấm nhạt dần rồi hiện ra một loạt các dấu chấm hỏi. Chúng như thoát ra khỏi bóng tối và cứ như đang nhảy theo điệu cancan của người Pháp.

“Nào, bây giờ đến dấu hỏi chấm đây, có hàng nghìn dấu hỏi chấm chứ gì? Được rồi, ta sẽ tìm ra chỗ đứng cho chúng mày. Người ta thường đặt chúng vào cuối những câu hỏi hoặc yêu cầu gì đó ví dụ như: “Trong quỹ của bộ còn bao nhiêu tiền?” hoặc “Bên công an chắc sẽ không tìm ra đâu nhỉ?”, còn khi mà các dấu chấm hỏi đứng thẳng lên trong trường hợp dùng cho các câu có tính chất phê chuẩn hoặc mệnh lệnh thì chúng lại trở thành các dấu chấm than... Hừ... bây giờ đến cái dấu luôn được dùng khi bắt đầu những lá thư, khi “Kính thưa ngài!” hoặc khi “Thưa đức ông cao quý, người đỡ đầu của tôi!”... Nhưng đối với một bản báo cáo thì sao nhỉ? Dấu chấm than thường đứng cao hơn so với các con chữ, chúng có tính chất chờ đợi, mong chờ một điều gì đó xảy ra, v.v trong một báo cáo, chúng được dùng khi... khi mà... khi nào nhỉ???... Khi... thực ra là... khi nào nhỉ... xem nào, nghĩ một tí xem nào... hừ!..”

Yefim Formich Perekladin trở mình, mở mắt ra, nhưng khi vừa mới nhắm mắt lại thì những chiếc dấu chấm than lại hiện ngay ra trong bóng tối rõ mồn một. “Ôi quỷ tha ma bắt chúng đi! Mà khi nào thì dùng dấu chấm than nhỉ?”, ông tự hỏi rồi cố quên đi những vị khách không mời mà đến đang lởn vởn trong đầu. “Có phải mình đã thực sự quên cách dùng dấu chấm than không nhỉ? Hay là mình chưa bao giờ phải dùng đến chúng cả?”

Yefim Formich Perekladin cố nhớ lại tất cả các báo cáo mà mình đã viết trong suốt 40 năm qua ở công sở. Nhưng càng suy nghĩ, cân nhắc, ông lại càng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Ông không thể nào tìm ra một lần nào trong suốt thời gian qua đã dùng đến dấu chấm than cả. “Hãy tưởng tượng xem, một nhân viên hành chính sự nghiệp mà trong suốt bốn mươi năm phục vụ chưa một lần dùng đến dấu chấm than! Chúng biến đi đâu hết cả nhỉ, cái con quỷ gầy gò dài ngoằng ấy!”

Từ phía sau hàng dấu chấm than nhấp nháy như lửa cháy ấy lấp ló bộ mặt của cái anh trẻ tuổi, khuôn mặt ấy như đang cười cợt một cách đầy ác cảm và đắc thắng, những cái dấu cũng như cười cợt theo rồi chúng họp nhau lại thành một cái dấu chấm than to đùng trong bóng tối. Yefim Formich Perekladin lắc đầu rồi mở mắt ra, “Ôi đồ quỷ sứ”, ông nghĩ, “mình phải dậy thật sớm ngày mai mà những điều đáng nguyền rủa này lại không để mình yên, cứ bám riết lấy mình...đồ chết tiệt!”

“Nhưng chúng biến đi đâu được nhỉ, suốt bao năm làm việc mới rút ra được kinh nghiệm mà bỗng dưng với cái dấu chấm than này mình lại trở thành người vỡ nợ, một kẻ ngã ngựa giữa đường! Bốn mươi năm mà chưa một lần dùng dấu chấm than, thật kỳ lạ!”

Yefim Formich Perekladin làm dấu, nhắm mắt lại rồi lại mở ngay ra nhưng cái dấu chấm than to tướng đó vẫn hiện ra rõ mồn một. “Sao thế, không ngủ được à?”, Mafusa, vợ ông hỏi. “Đúng rồi, thử hỏi bà ấy xem,” ông quay sang phía vợ, “bà ấy vẫn luôn luôn khoe khoang là học sinh của một trường nổi tiếng dành cho nữ sinh cơ mà”. Ông liền hỏi: “Bà nó này, bà có biết là dấu chấm than được dùng như thế nào không?”. “Tất nhiên rồi”, bà trả lời. “Thế ông nghĩ là tôi đã bỏ phí bảy năm để học trong một trường chuyên à! Tôi thuộc lòng cách dùng của tất cả các loại dấu, dấu chấm than thì dùng cho những câu cảm thán, chào hỏi, sự bột phát, bùng nổ, khi vui sương thích thú hoặc tức giận và những cảm giác đại loại như thế.” “Vậy à...” Yefim Formich Perekladin nghĩ ngợi.... “Vui sướng, giận hờn hoặc những cảm giác đại loại như thế...”

Yefim Formich Perekladin lại chìm vào suy nghĩ... “Trong bốn mươi năm qua mình đã từng viết báo cáo, hàng nghìn, hàng chục nghìn cái báo cáo nhưng không thể nhớ lại một dòng nào có cái tâm trạng đại loại như vui sướng, giận dữ hoặc tâm trạng tương tự như vậy trong các báo cáo của mình cả!.. “Và những tâm trạng đại loại như vậy...” Ông phân vân, tự hỏi: “Nhưng có cần tâm trạng, cảm xúc gì không trong công việc của một viên chức thư ký hành chính như mình? Thật ra viết báo cáo thì chẳng cần có cảm xúc gì với chúng đâu!”

Khuôn mặt khó chịu của cái anh trẻ lại ló ra, thập thò hé nhìn từ phía sau cái dấu chấm than đỏ rực ấy, cười cười như thương hại...Yefim Formich Perekladin ngồi dậy, cảm thấy đầu đau như búa bổ, mồ hôi rịn ra trên trán... ngọn đèn nhỏ mập mờ, le lói... vẫn những đồ đạc được xếp đặt ngăn nắp, sạch sẽ và luôn bóng bẩy vì luôn được một bàn tay phụ nữ mềm mại dịu dàng chăm sóc. Nhưng Yefim Formich Perekladin, viên chức hành chính sự nghiệp mẫn cán vẫn cảm thấy ảm đạm, lạnh lẽo cứ như là người đang lên cơn sốt phát ban làm ông mệt mỏi, chán chường!

Cái dấu chấm than không còn ở trong bóng tối, phía sau mí mắt ông nữa mà như hiện ra hẳn trước mắt ông, gần ngay bàn trang điểm của vợ ông luôn nhấp nháy, nhấp nháy một cách ác độc. “Một cái máy viết”, nó lầm rầm y như một con ma, “một cái máy viết” rồi như thở ra một luồng hơi lạnh lẽo bao trùm lên ông: “Một tên làm khoán cục mịch đần độn”. Ông liền kéo cái chăn trùm kín mít lên đầu nhưng cái con ma chết tiệt ấy vẫn chẳng chịu rời. Ông úp mặt vào vai vợ nhưng cái bóng ma quái ác vẫn không chịu biến mất mà lại hiện ra ngay trước mắt ông phía bên kia vai bà Mafusa.

Thế là suốt cả đêm Yefim Formich Perekladin tội nghiệp bị những bóng ma con dấu ám ảnh. Thậm chí cả lúc ban ngày những bóng ma ấy cũng không chịu rời khỏi ông. Ông thấy chúng ở khắp mọi nơi, ở trong giày khi ông xỏ giày, ở trong chén trà khi ông uống nhằm tỉnh táo hơn, thậm chí cả trên chiếc huy chương đeo lủng lẳng trên ngực áo ông. “Những cảm xúc tương tự...”, ông nghĩ, sự thật là như vậy, mình không có cảm xúc, mình sẽ đến để nói với ông giám đốc. Nhưng ông ta biết làm gì đây với những cảm xúc? Không, chẳng để làm gì cả, ông ta cũng chỉ là một cái máy. Một viên chức máy!

Khi Yefim Formich Perekladin đi ra đến đường, gọi một anh đánh xe, trông anh ta cũng như một chiếc dấu chấm than đang đánh xe vậy, cả cái anh vẫn đứng gác ở cổng lối ra vào phòng ông giám đốc nữa, cũng giống y một cái dấu chấm than nốt... tất cả như đang thể hiện với ông về niềm vui, tức giận và cả căm hờn... Cả cái cán bút và cái ngòi bút của ông trông cũng y xì như một cái dấu chấm than! Yefim Formich Perekladin cầm nó lên, hờ hững viết ra cái tên và chức danh của mình: “Yefim Formich Perekladin, thư ký bộ giáo dục!!!”. Khi ông đánh ba dấu chấm than ấy, trong ông dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa vui vẻ, vừa tức giận lại như vừa có chút gì như sung sướng trào lên trong lòng.

“Đây! Hãy giữ lấy, giữ lấy!”, ông lầm bầm, nhấn mạnh vào cây bút trong tay ông. Cái dấu chấm than đỏ rực như đã mãn nguyện vụt biến mất.

1885

(Thái Đức Khải dịch từ bản tiếng Anh)

Tình đau

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook



Tình đau, tình đóng sẹo
Tình đả thương và huỷ hoại
Bất kỳ trái tim nào không đủ dẻo dai và mạnh mẽ
Để nhận lấy quá nhiều đau đớn
Tình như đám mây chứa quá nhiều mưa.

Anh trẻ trung, anh biết, nhưng dù thế
Anh biết đôi điều anh đã học từ 4c
Anh thực sự đã học rất nhiều
Tình như cái lò, nó đốt cháy 4c khi nó nóng.

Mấy thằng ngốc nói sảng về hạnh phúc
Sự an lạc, cảm xúc lứa đôi
Mấy thằng ngốc phỉnh chính mình, anh nghĩ thế
Chứ chúng không phỉnh anh
Anh biết nó không có thật
Tình chỉ là điều giả dối được tạo ra để khiến 4c buồn.


Felice & Boudleaux Bryant

Hòn đảo của bác sĩ Moreau (31)

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Người-Báo đã chạy xồng xộc theo đường của nó qua những cây lau dài, cái đấy đã bật trở lại khi nó đã chuyển qua, và đã khua lạch xạch vào mặt M'ling. Chúng tôi những người khác ở phía hậu trường đã tìm được một đường đi bị giẫm đạp cho chúng tôi khi chúng tôi đã đuổi đến bụi cây. Cuộc săn đuổi ngang qua bụi cây trong có lẽ là một phần tư dặm, và rồi đã ngập vào vào một lùm cây rậm rạp, cái đấy đã làm chậm chạp những sự vận động của chúng tôi cực kỳ, mặc dù chúng tôi đã đi qua nó với một đám đông cùng nhau, - những chiếc lá dương xỉ hình răng lược đập nhẹ vào những khuôn mặt của chúng tôi, những loài dây leo đặc quánh lại thành dây tóm lấy chúng tôi dưới cằm hoặc kẹp chặt những mắt cá chân của chúng tôi, những thực vật có gai móc vào và xé rách cả vải và thịt.

"Nó đã chạy bằng bốn chân qua chỗ này," Moreau hổn hển, bây giờ đang ở ngay phía trước tôi.

"Không kẻ nào trốn thoát," Gấu-Sói đã nói, cười vào mặt tôi với nỗi hớn hở của việc đi săn. Chúng tôi xông ra một lần nữa giữa những hòn đá, và đã thấy con mồi ở phía trước chạy một cách nhẹ nhàng bằng bốn chân và gầm gừ về phía chúng tôi qua bờ vai của nó. Tại đó Người-Sói đã gào lên cùng với niềm khoái cảm. Con mồi vẫn còn mặc quần áo, và trong khoảng cách gương mặt của nó vẫn còn hóa ra là mặt con người; nhưng kiểu chạy bốn chân của nó giống như mèo, và dáng ủ rũ lén lút của bờ vai nó đã rành mạch là của một động vật bị săn. Nó nhảy qua những bụi rậm hoa vàng nhiều gai nào đó, và đã được che khuất. M'ling đã một nửa đường xuyên qua khoảng trống.

Đa số chúng tôi bây giờ đã đánh mất tốc độ lúc đầu của cuộc đuổi bắt, và đã rơi vào những bước chân dài hơn và vững vàng hơn. Tôi đã thấy lúc chúng tôi đã đi ngang qua chỗ trống là sự theo đuổi bây giờ căng ra từ một hình cột thành một đường thẳng. Con Lợn Linh Cẩu vẫn còn chạy gần tôi, theo dõi tôi trong lúc nó chạy, mỗi lúc này lúc khác nhăn cái mõm của nó cùng với một tiếng cười gầm gừ. Tại mép của những hòn đá Người-Báo, nhận rõ là nó đã tới mũi đất nhô ra ở trên đấy nó đã bám theo tôi vào đêm tôi vừa đến đây, đã tăng tốc gấp đôi trong tầng cây thấp; nhưng Montgomery đã trông thấy thủ đoạn đó, và đã chuyển hướng theo nó một lần nữa. Như vậy, hổn hà hổn hển, ngã bổ nhào va vào những hòn đá, vị cào rách bởi những bụi gai, bị cản trở bởi những cây dương xỉ và những cây sậy, tôi đã cùng đeo đuổi Người-Báo kẻ đã phạm Luật, và con Lợn Linh Cẩu đã chạy, cười man dợ, ngay bên cạnh tôi. Tôi đã bị loạng choạng, đầu tôi quay cuồng và tim của tôi nện va vào những nhánh xương sườn của tôi, đã mệt mỏi hầu như đến chết, và hơn nữa không dám khuất khỏi tầm nhìn của cả đoàn đuổi bắt để khỏi bị bỏ lại một mình cùng với người đồng hành kinh khủng này. Tôi đã loạng choạng trong sự ấm ức vì sự mệt nhọc vô kể và sức nóng đậm đặc của buổi chiều nhiệt đới.

Rốt cuộc sự giận dữ của cuộc đi săn đã chùng xuống. Chúng tôi đã vây chặt thú vật bất hạnh vào một góc của hòn đảo. Moreau, roi trong tay, đã sắp xếp tất cả chúng tôi vào một đường thẳng bất quy tắc, và chúng tôi đã dấn bước lên bây giờ một cách từ từ, hò hét lẫn nhau khi chúng tôi tiến lên và xiết chặt vòng vây xung quanh nạn nhân của chúng tôi. Nó đã ẩn nấp yên ắng và không nhìn thấy được trong những bụi rậm qua cái đấy tôi đã chạy khỏi nó trong cuộc đuổi bắt nửa đêm lần trước.

"Vững vàng!" Moreau hét, "Vững vàng!" khi những chỗ kết thúc của đường thẳng đã bò trườn xung quanh chỗ lộn xộn của tầng cây thấp và đã làm thành đường viền súc vật trong đó.

“Coi chừng một cú xô đẩy!" giọng nói của Montgomery vang đến từ tận bên kia bụi cây.

Tôi đã ở trên chỗ dốc cao hơn những bụi rậm; Montgomery và Moreau khua khoắng dọc theo bãi biển ở phía dưới. Một cách chậm chạp chúng tôi đã lại gần giữa mạng lưới lăn tăn những cành và lá. Con mồi đã im lặng.

"Trở lại Căn nhà Đau đớn, Căn nhà Đau đớn, Căn nhà Đau đớn!" giọng nói của Người-Khỉ đã ăng ẳng, hai mươi thước Anh nào đó về phía bên phải.

Khi tôi đã nghe cái đấy, tôi tha thứ cho kẻ khốn khổ tội nghiệp về tất cả sự sợ hãi nó đã gây ra cho tôi. Tôi đã nghe những cành con lách tách và những cành cây kêu vun vút sang một bên trước bước đi nặng nề của con Ngựa-Tê Giác ở bên phải tôi. Khi đó bất ngờ qua một cái đa giác của màu xanh, trong bóng tối phân nửa dưới đám cây mọc um tùm, tôi đã thấy sinh vật chúng tôi đang săn. Tôi đã dừng lại. Nó đã thu mình lại vào một phạm vi khả thi nhỏ nhất, những con mắt xanh lá cây dạ quang của nó đã ngoảnh qua bờ vai nó và nhìn tôi.

Nó có thể hóa ra là một sự mâu thuẫn kỳ lạ trong tôi, - Tôi không thể giải thích sự việc, - nhưng bây giờ, thấy sinh vật ở đó trong một thái độ một cách hoàn hảo động vật, cùng với ánh sáng lập lòe trong những con mắt nó và gương mặt một cách không hoàn hảo con người của nó đã méo mó vì sự kinh hoàng, tôi đã hình dung một lần nữa sự việc nhân tính của nó. Chỉ một thời điểm nữa một người khác trong những người đuổi bắt nó sẽ thấy nó, và nó sẽ bị khắc chế và tóm cổ, để trải nghiệm thêm một lần nữa những sự tra tấn kinh khủng ở khu vực có hàng rào vây quanh. Đột ngột tôi đã rút súng lục của tôi ra, nhắm vào giữa những con mắt khiếp sợ của nó, và đã nổ súng. Lúc tôi làm như vậy, con Lợn Linh Cẩu đã thấy con mồi, và đã ném mình lên nó cùng với một tiếng thét hăm hở, đâm mạnh những cái răng khát máu vào cổ nó. Tất cả chung quanh tôi những đống lớn màu xanh lục của bụi cây đã lắc lư và gãy răng rắc khi những Người-Thú đã cùng xô đến. Một gương mặt và rồi một gương mặt khác nữa đã xuất hiện.

"Đừng giết chết nó, Prendick!" Moreau kêu. "Đừng giết chết nó!" và tôi thấy ống ấy cúi mình xuống lúc ông ấy đã luồn qua dưới những chiếc lá hình răng lược của những cây dương xỉ lớn.

Ngay sau đấy ông ấy đã quất con Lợn Linh Cẩu bằng tay cầm của roi của ông ấy, và ông ấy cùng Montgomery đã giữ xa ra những Người-Thú ăn thịt đã bị kích động, và một cách đặc biệt là M'ling, từ thân thể vẫn còn run rẩy. Con tóc xám đã đến khịt mũi về phía thi hài dưới cánh tay tôi. Những động vật khác, trong nhiệt huyết động vật của chúng, đã xô đẩy tôi để có được một tầm nhìn gần hơn.

"Quỷ tha ma bắt anh đi, Prendick!" Moreau nói. "Tôi đã muốn có nó."

"Tôi rất tiếc," tôi nói, dù tôi đã không phải như thế. "Nó đã là sự bốc đồng nhất thời." Tôi đã cảm thấy bải hoải vì sự nỗ lực và kích động. Quay lại, tôi đã rẽ lối ra của tôi khỏi đám Người-Thú đang xúm lại và đi tiếp một mình lên dốc về phía phần cao hơn của mũi đất. Dưới sự la hét chỉ huy của Moreau tôi đã nghe ba Người-Bò quấn vải trắng bắt đầu lôi kéo nạn nhân xuống về phía nước.

Đã dễ chịu bây giờ đối với tôi là được ở một mình. Những Người-Thú đã chứng tỏ một tính hiếu kỳ hoàn toàn mang tính người về xác chết, và đã đi theo nó thành một gút dày, khịt mũi và gầm gừ về phía nó khi những Người-Bò lôi kéo nó xuống bãi biển. Tôi đã đi tới mũi đất và theo dõi những Người-Bò, đen đúa trên nền bầu trời tối lúc họ đã mang thân thể chết nặng nề ra biển; và như một làn sóng xuyên qua trí não của tôi đã chợt đến một nhận thức về tính bâng quơ không tả xiết của các thứ ở trên hòn đảo. Ở trên bãi biển giữa những hòn đá ở phía dưới tôi đã là chàng Người-Khỉ, con Lợn-Linh Cẩu, và vài Người-Thú khác, đứng xung quanh Montgomery và Moreau. Họ tất cả vẫn còn mãnh liệt kích động, và tất cả tràn ngập những biểu hiện om sòm của lòng trung nghĩa của họ đối với Luật; tôi còn cảm thấy một sự quả quyết tuyệt đối trong trí não chính của tôi là con Lợn-Linh Cẩu đã có dính líu tới con thỏ bị giết. Một sự thuyết phục lạ lùng đã đến trên tôi, là, bảo toàn tính hiển nhiên của đường thẳng, tính lố bịch của các hình dạng, tôi đã có ở đây trước mặt tôi toàn bộ sự thăng bằng của cuộc sống con người trong bức tiểu họa, toàn bộ sự tác động lẫn nhau của bản năng, lý trí, và số phận trong dạng đơn giản nhất của nó. Người-Báo đã ngẫu nhiên nằm xuống: cái đấy đã là tất cả sự khác biệt. Súc vật tội nghiệp!

Những súc vật tội nghiệp! Tôi đã bắt đầu thấy diện mạo hèn hạ hơn của sự tàn ác của Moreau. Tôi không nghĩ trước đấy về sự đau đớn và sự phiền toái cái đấy đã đến với các nạn nhân tội nghiệp này sau khi chúng đã qua những bàn tay của Moreau. Tôi đã run rẩy chỉ vào những ngày day dứt thực sự ở trong khu hàng rào. Nhưng bây giờ cái đấy đã hóa ra là chuyện nhỏ hơn đối với tôi. Trước đây, chúng đã là các thú vật, những bản năng của chúng một cách phù hợp đã thích ứng tới môi trường xung quanh chúng, và chúng hạnh phúc như những thực thể sống có thể. Bây giờ chúng đã sảy chân vào những cái còng của loài người, đã sống trong một sự sợ hãi cái đấy chưa bao giờ chết, đã bực bội bởi một luật lệ chúng đã không thể hiểu; sự tồn tại bắt-chước-con-người của chúng, đã bắt đầu trong một nỗi thống khổ, đã là một sự vật lộn nội tâm dai dẳng, một sự kinh sợ dài đối với Moreau - và để làm gì? Sự bừa bãi giản đơn một cách vô cớ của việc này đã khuấy động tôi.

Nếu Moreau đã có một mục đích nào đó có thể hiểu được, tôi đã có thể đã có thiện cảm ít nhất là một chút với ông ấy. Tôi là không phải quá hay buồn nôn về sự đau đớn như cái đấy. Tôi đã có thể tha thứ ông ấy một chút thậm chí, nếu động cơ của ông ấy đã chỉ là sự căm thù. Nhưng ông ấy đã là rất thiếu tinh thần trách nhiệm, rất cực kỳ vô tâm! Tính hiếu kỳ của ông ấy, những sự nghiên cứu điên rồ, không mục đích của ông ấy, đã dẫn dắt ông ấy đi; và nhưng con vật đã bị ném ra để sống một năm gì đó, để đấu tranh và sai lầm một cách ngớ ngẩn và vật vã, và rốt cuộc để chết một cách đau đớn. Chúng đã là bất hạnh trong chính mình; động vật già ghét làm phiền lẫn nhau; Luật đã giữ chúng lại từ một sự đấu tranh gay gắt ngắn gọn và một kết thúc dứt khoát tới những hận thù tự nhiên giữa chúng.

Trong những ngày đấy sự sợ hãi của tôi về những Người-Thú đã đi theo lối của sự sợ hãi cá nhân của tôi đối với Moreau. Tôi đã rơi quả thực là vào một trạng thái không lành mạnh, sâu sắc và dai dẳng, và trái với sự sợ hãi, cái đấy đã bỏ lại những vết sẹo lâu bền ở trên trí não của tôi. Tôi phải thú nhận là tôi đã đánh mất niềm tin vào sự sáng suốt của thế giới khi tôi đã thấy nó phải chịu đựng sự lộn xộn đớn đau trên hòn đảo này. Một sự hủy hoại mù quáng, một cơ chế máy móc nhẫn tâm đồ sộ, đã hóa ra là để cắt và tạo hình kết cấu của sự sống và tôi, Moreau (bởi sự say mê nghiên cứu của ông ấy), Montgomery (bởi sự say mê nốc rượu của anh ấy), những Người-Thú cùng với những bản năng của chúng và những sự giới hạn tinh thần, đã bị xé rách và nghiến nát, không thương xót, một cách tất yếu, giữa sự phức tạp vô hạn của các bánh xe liên miên của nó. Nhưng điều kiện này đã không đến tất cả ngay lập tức: tôi nghĩ quả thực là tôi đã dự đoán trước một chút khi nói về nó lúc này.

(to be cont.)

About love

20 ý kiến, và ý kiến từ facebook

At lunch next day there were very nice pies, crayfish, and mutton cutlets; and while we were eating, Nikanor, the cook, came up to ask what the visitors would like for dinner. He was a man of medium height, with a puffy face and little eyes; he was close-shaven, and it looked as though his moustaches had not been shaved, but had been pulled out by the roots. Alehin told us that the beautiful Pelagea was in love with this cook. As he drank and was of a violent character, she did not want to marry him, but was willing to live with him without. He was very devout, and his religious convictions would not allow him to "live in sin"; he insisted on her marrying him, and would consent to nothing else, and when he was drunk he used to abuse her and even beat her. Whenever he got drunk she used to hide upstairs and sob, and on such occasions Alehin and the servants stayed in the house to be ready to defend her in case of necessity.

We began talking about love.

"How love is born," said Alehin, "why Pelagea does not love somebody more like herself in her spiritual and external qualities, and why she fell in love with Nikanor, that ugly snout - we all call him 'The Snout' - how far questions of personal happiness are of consequence in love - all that is known; one can take what view one likes of it. So far only one incontestable truth has been uttered about love: 'This is a great mystery.' Everything else that has been written or said about love is not a conclusion, but only a statement of questions which have remained unanswered. The explanation which would seem to fit one case does not apply in a dozen others, and the very best thing, to my mind, would be to explain every case individually without attempting to generalize. We ought, as the doctors say, to individualize each case."

"Perfectly true," Burkin assented.

"We Russians of the educated class have a partiality for these questions that remain unanswered. Love is usually poeticized, decorated with roses, nightingales; we Russians decorate our loves with these momentous questions, and select the most uninteresting of them, too. In Moscow, when I was a student, I had a friend who shared my life, a charming lady, and every time I took her in my arms she was thinking what I would allow her a month for housekeeping and what was the price of beef a pound. In the same way, when we are in love we are never tired of asking ourselves questi ons: whether it is honourable or dishonourable, sensible or stupid, what this love is leading up to, and so on. Whether it is a good thing or not I don't know, but that it is in the way, unsatisfactory, and irritating, I do know."

It looked as though he wanted to tell some story. People who lead a solitary existence always have something in their hearts which they are eager to talk about. In town bachelors visit the baths and the restaurants on purpose to talk, and sometimes tell the most interesting things to bath attendants and waiters; in the country, as a rule, they unbosom themselves to their guests. Now from the window we could see a grey sky, trees drenched in the rain; in such weather we could go nowhere, and there was nothing for us to do but to tell stories and to listen.

"I have lived at Sofino and been farming for a long time," Alehin began, "ever since I left the University. I am an idle gentleman by education, a studious person by disposition; but there was a big debt owing on the estate when I came here, and as my father was in debt partly because he had spent so much on my education, I resolved not to go away, but to work till I paid off the debt. I made up my mind to this and set to work, not, I must confess, without some repugnance. The land here does not yield much, and if one is not to farm at a loss one must employ serf labour or hired labourers, which is almost the same thing, or put it on a peasant footing - that is, work the fields oneself and with one's family. There is no middle path. But in those days I did not go into such subtleties. I did not leave a clod of earth unturned; I gathered together all the peasants, men and women, from the neighbouring villages; the work went on at a tremendous pace. I myself ploughed and sowed and reaped, and was bored doing it, and frowned with disgust, like a village cat driven by hunger to eat cucumbers in the kitchen-garden. My body ached, and I slept as I walked. At first it seemed to me that I could easily reconcile this life of toil with my cultured habits; to do so, I thought, all that is necessary is to maintain a certain external order in life. I established myself upstairs here in the best rooms, and ordered them to bring me there coffee and liquor after lunch and dinner, and when I went to bed I read every night the Yyesnik Evropi. But one day our priest, Father Ivan, came and drank up all my liquor at one sitting; and the Yyesnik Evropi went to the priest's daughters; as in the summer, especially at the haymaking, I did not succeed in getting to my bed at all, and slept in the sledge in the barn, or somewhere in the forester's lodge, what chance was there of reading? Little by little I moved downstairs, began dining in the servants' kitchen, and of my former luxury nothing is left but the servants who were in my father's service, and whom it would be painful to turn away.

"In the first years I was elected here an honourary justice of the peace. I used to have to go to the town and take part in the sessions of the congress and of the circuit court, and this was a pleasant change for me. When you live here for two or three months without a break, especially in the winter, you begin at last to pine for a black coat. And in the circuit court there were frock-coats, and uniforms, and dress-coats, too, all lawyers, men who have received a general education; I had some one to talk to. After sleeping in the sledge and dining in the kitchen, to sit in an arm-chair in clean linen, in thin boots, with a chain on one's waistcoat, is such luxury!

"I received a warm welcome in the town. I made friends eagerly. And of all my acquaintanceships the most intimate and, to tell the truth, the most agreeable to me was my acquaintance with Luganovitch, the vice-president of the circuit court. You both know him: a most charming personality. It all happened just after a celebrated case of incendiarism; the preliminary investigation lasted two days; we were exhausted. Luganovitch looked at me and said:

" 'Look here, come round to dinner with me.'

"This was unexpected, as I knew Luganovitch very little, only officially, and I had never been to his house. I only just went to my hotel room to change and went off to dinner. And here it was my lot to meet Anna Alexyevna, Luganovitch's wife. At that time she was still very young, not more than twenty-two, and her first baby had been born just six months before. It is all a thing of the past; and now I should find it difficult to define what there was so exceptional in her, what it was in her attracted me so much; at the time, at dinner, it was all perfectly clear to me. I saw a lovely young, good, intelligent, fascinating woman, such as I had never met before; and I felt her at once some one close and already familiar, as though that face, those cordial, intelligent eyes, I had seen somewhere in my childhood, in the album which lay on my mother's chest of drawers.

"Four Jews were charged with being incendiaries, were regarded as a gang of robbers, and, to my mind, quite groundlessly. At dinner I was very much excited, I was uncomfortable, and I don't know what I said, but Anna Alexyevna kept shaking her head and saying to her husband:

" 'Dmitry, how is this?'

"Luganovitch is a good-natured man, one of those simple-hearted people who firmly maintain the opinion that once a man is charged before a court he is guilty, and to express doubt of the correctness of a sentence cannot be done except in legal form on paper, and not at dinner and in private conversation.

" 'You and I did not set fire to the place,' he said softly, 'and you see we are not condemned, and not in prison.'

"And both husband and wife tried to make me eat and drink as much as possible. From some trifling details, from the way they made the coffee together, for instance, and from the way they understood each other at half a word, I could gather that they lived in harmony and comfort, and that they were glad of a visitor. After dinner they played a duet on the piano; then it got dark, and I went home. That was at the beginning of spring.

"After that I spent the whole summer at Sofino without a break, and I had no time to think of the town, either, but the memory of the graceful fair-haired woman remained in my mind all those days; I did not think of her, but it was as though her light shadow were lying on my heart.

"In the late autumn there was a theatrical performance for some charitable object in the town. I went into the governor's box (I was invited to go there in the interval); I looked, and there was Anna Alexyevna sitting beside the governor's wife; and again the same irresistible, thrilling impression of beauty and sweet, caressing eyes, and again the same feeling of nearness. We sat side by side, then went to the foyer.

" 'You've grown thinner,' she said; 'have you been ill?'

" 'Yes, I've had rheumatism in my shoulder, and in rainy weather I can't sleep.'

" 'You look dispirited. In the spring, when you came to dinner, you were younger, more confident. You were full of eagerness, and talked a great deal then; you were very interesting, and I really must confess I was a little carried away by you. For some reason you often came back to my memory during the summer, and when I was getting ready for the theatre today I thought I should see you.'

"And she laughed.

" 'But you look dispirited today,' she repeated; 'it makes you seem older.'

"The next day I lunched at the Luganovitchs'. After lunch they drove out to their summer villa, in order to make arrangements there for the winter, and I went with them. I returned with them to the town, and at midnight drank tea with them in quiet domestic surroundings, while the fire glowed, and the young mother kept going to see if her baby girl was asleep. And after that, every time I went to town I never failed to visit the Luganovitchs. They grew used to me, and I grew used to them. As a rule I went in unannounced, as though I were one of the family.

" 'Who is there?' I would hear from a faraway room, in the drawling voice that seemed to me so lovely.

" 'It is Pavel Konstantinovitch,' answered the maid or the nurse.

"Anna Alexyevna would come out to me with an anxious face, and would ask every time:

" 'Why is it so long since you have been? Has anything happened?'

"Her eyes, the elegant refined hand she gave me, her indoor dress, the way she did her hair, her voice, her step, always produced the same impression on me of something new and extraordinary in my life, and very important. We talked together for hours, were silent, thinking each our own thoughts, or she played for hours to me on the piano. If there were no one at home I stayed and waited, talked to the nurse, played with the child, or lay on the sofa in the study and read; and when Anna Alexyevna came back I met her in the hall, took all her parcels from her, and for some reason I carried those parcels every time with as much love, with as much solemnity, as a boy.

"There is a proverb that if a peasant woman has no troubles she will buy a pig. The Luganovitchs had no troubles, so they made friends with me. If I did not come to the town I must be ill or something must have happened to me, and both of them were extremely anxious. They were worried that I, an educated man with a knowledge of languages, should, instead of devoting myself to science or literary work, live in the country, rush round like a squirrel in a rage, work hard with never a penny to show for it. They fancied that I was unhappy, and that I only talked, laughed, and ate to conceal my sufferings, and even at cheerful moments when I felt happy I was aware of their searching eyes fixed upon me. They were particularly touching when I really was depressed, when I was being worried by some creditor or had not money enough to pay interest on the proper day. The two of them, husband and wife, would whisper together at the window; then he would come to me and say with a grave face:

" 'If you really are in need of money at the moment, Pavel Konstantinovitch, my wife and I beg you not to hesitate to borrow from us.'

"And he would blush to his ears with emotion. And it would happen that, after whispering in the same way at the window, he would come up to me, with red ears, and say:

" 'My wife and I earnestly beg you to accept this present.'

"And he would give me studs, a cigar-case, or a lamp, and I would send them game, butter, and flowers from the country. They both, by the way, had considerable means of their own. In early days I often borrowed money, and was not very particular about it - borrowed wherever I could - but nothing in the world would have induced me to borrow from the Luganovitchs. But why talk of it?

"I was unhappy. At home, in the fields, in the barn, I thought of her; I tried to understand the mystery of a beautiful, intelligent young woman's marrying some one so uninteresting, almost an old man (her husband was over forty), and having children by him; to understand the mystery of this uninteresting, good, simple-hearted man, who argued with such wearisome good sense, at balls and evening parties kept near the more solid people, looking listless and superfluous, with a submissive, uninterested expression, as though he had been brought there for sale, who yet believed in his right to be happy, to have children by her; and I kept trying to understand why she had met him first and not me, and why such a terrible mistake in our lives need have happened.

"And when I went to the town I saw every time from her eyes that she was expecting me, and she would confess to me herself that she had had a peculiar feeling all that day and had guessed that I should come. We talked a long time, and were silent, yet we did not confess our love to each other, but timidly and jealously concealed it. We were afraid of everything that might reveal our secret to ourselves. I loved her tenderly, deeply, but I reflected and kept asking myself what our love could lead to if we had not the strength to fight against it. It seemed to be incredible that my gentle, sad love could all at once coarsely break up the even tenor of the life of her husband, her children, and all the household in which I was so loved and trusted. Would it be honourable? She would go away with me, but where? Where could I take her? It would have been a different matter if I had had a beautiful, interesting life - if, for instance, I had been struggling for the emancipation of my country, or had been a celebrated man of science, an artist or a painter; but as it was it would mean taking her from one everyday humdrum life to another as humdrum or perhaps more so. And how long would our happiness last? What would happen to her in case I was ill, in case I died, or if we simply grew cold to one another?

"And she apparently reasoned in the same way. She thought of her husband, her children, and of her mother, who loved the husband like a son. If she abandoned herself to her feelings she would have to lie, or else to tell the truth, and in her position either would have been equally terrible and inconvenient. And she was tormented by the question whether her love would bring me happiness - would she not complicate my life, which, as it was, was hard enough and full of all sorts of trouble? She fancied she was not young enough for me, that she was not industrious nor energetic enough to begin a new life, and she often talked to her husband of the importance of my marrying a girl of intelligence and merit who would be a capable housewife and a help to me - and she would immediately add that it would be difficult to find such a girl in the whole town.

"Meanwhile the years were passing. Anna Alexyevna already had two children. When I arrived at the Luganovitchs' the servants smiled cordially, the children shouted that Uncle Pavel Konstantinovitch had come, and hung on my neck; every one was overjoyed. They did not understand what was passing in my soul, and thought that I, too, was happy. Every one looked on me as a noble being. And grown-ups and children alike felt that a noble being was walking about their rooms, and that gave a peculiar charm to their manner towards me, as though in my presence their life, too, was purer and more beautiful. Anna Alexyevna and I used to go to the theatre together, always walking there; we used to sit side by side in the stalls, our shoulders touching. I would take the opera-glass from her hands without a word, and feel at that minute that she was near me, that she was mine, that we could not live without each other; but by some strange misunderstanding, when we came out of the theatre we always said good-bye and parted as though we were strangers. Goodness knows what people were saying about us in the town already, but there was not a word of truth in it all!

"In the latter years Anna Alexyevna took to going away for frequent visits to her mother or to her sister; she began to suffer from low spirits, she began to recognize that her life was spoilt and unsatisfied, and at times she did not care to see her husband nor her children. She was already being treated for neurasthenia.

"We were silent and still silent, and in the presence of outsiders she displayed a strange irritation in regard to me; whatever I talked about, she disagreed with me, and if I had an argument she sided with my opponent. If I dropped anything, she would say coldly:

" 'I congratulate you.'

"If I forgot to take the opera-glass when we were going to the theatre, she would say afterwards:

" 'I knew you would forget it.'

"Luckily or unluckily, there is nothing in our lives that does not end sooner or later. The time of parting came, as Luganovitch was appointed president in one of the western provinces. They had to sell their furniture, their horses, their summer villa. When they drove out to the villa, and afterwards looked back as they were going away, to look for the last time at the garden, at the green roof, every one was sad, and I realized that I had to say goodbye not only to the villa. It was arranged that at the end of August we should see Anna Alexyevna off to the Crimea, where the doctors were sending her, and that a little later Luganovitch and the children would set off for the western province.

"We were a great crowd to see Anna Alexye vna off. When she had said good-bye to her husband and her children and there was only a minute left before the third bell, I ran into her compartment to put a basket, which she had almost forgotten, on the rack, and I had to say good-bye. When our eyes met in the compartment our spiritual fortitude deserted us both; I took her in my arms, she pressed her face to my breast, and tears flowed from her eyes. Kissing her face, her shoulders, her hands wet with tears - oh, how unhappy we were! - I confessed my love for her, and with a burning pain in my heart I realized how unnecessary, how petty, and how deceptive all that had hindered us from loving was. I understood that when you love you must either, in your reasonings about that love, start from what is highest, from what is more important than happiness or unhappiness, sin or virtue in their accepted meaning, or you must not reason at all.

"I kissed her for the last time, pressed her hand, and parted for ever. The train had already started. I went into the next compartment - it was empty - and until I reached the next station I sat there crying. Then I walked home to Sofino. . . ."

While Alehin was telling his story, the rain left off and the sun came out. Burkin and Ivan Ivanovitch went out on the balcony, from which there was a beautiful view over the garden and the mill-pond, which was shining now in the sunshine like a mirror. They admired it, and at the same time they were sorry that this man with the kind, clever eyes, who had told them this story with such genuine feeling, should be rushing round and round this huge estate like a squirrel on a wheel instead of devoting himself to science or something else which would have made his life more pleasant; and they thought what a sorrowful face Anna Alexyevna must have had when he said good-bye to her in the railway-carriage and kissed her face and shoulders. Both of them had met her in the town, and Burkin knew her and thought her beautiful.

Anton Chekhov

Nói về tình yêu

12 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Anh đang bận khoa học, hôm nay rảnh chút định viết tiếp "Thiên tượng" thì đọc thấy Đào phò đang tâm tư ở đây. Anh nhớ có một chuyện anh đã đọc, cùng luồng với những chuyện Nhật Linh đang bốt, hay và hợp với mấy chuyện tâm tư kia. Anh tìm được một bản tiếng Việt, nhưng đọc qua thấy dịch "méo" quá, đến nỗi anh quyết định tự dịch, để 4c đọc không bị hiểu "méo".

Anh dịch thì chẳng qua là đọc, rồi tiện tay type lại bằng tiếng Việt thôi, nhưng, nói gì thì nói, cũng vẫn phải type. Anh chỉ muốn nói là, hình như, anh quý 4c thật.


NÓI VỀ TÌNH YÊU
A. P. Trê-khốp

Hôm sau vào bữa sáng người ta đã bưng ra những chiếc bánh nướng tuyệt ngon, những con tôm và món thịt cừu băm viên; và trong lúc mọi người đang ăn, người đầu bếp Nhi-ka-nor đã đi lên để hỏi cho rõ, xem là những người khách sẽ muốn dùng gì vào bữa trưa. Đấy là một người tầm vóc trung bình, với khuôn mặt béo phị và cặp mắt ti hí, râu cạo nhẵn, và cảm giác là hàm ria của anh ta không phải được cạo, mà được nhổ sạch.

A-lê-khin kể, là nàng Pê-la-gây-a xinh đẹp đã phải lòng người đầu bếp này. Vì anh ta là một thằng say rượu và tính tình thô bạo, nên cô không muốn cưới anh ta, nhưng cô đồng ý cứ sống như vậy. Anh ta thì lại là kẻ tin chúa, và những niềm tin tôn giáo không cho phép anh ta sống như vậy; anh ta đòi hỏi, là cô phải lấy anh ta, ngược lại anh ta không muốn, và nhiếc móc cô, những khi say rượu, và thậm chí đánh cô. Những lúc anh ta say rượu, cô giấu mình trên gác và thổn thức, và những lúc đó A-lê-khin và chị hầu phòng không rời khỏi nhà, để bảo vệ cô nếu cần thiết.

Và họ chuyển sang nói về tình yêu.

- Tình yêu nảy sinh như thế nào, - A-lê-khin nói - vì sao Pê-la-gây-a không yêu ai đó khác, hợp với cô ấy hơn về các phẩm chất tâm hồn cũng như ngoại hình, mà lại yêu chính Nhi-ka-nor, yêu cái thằng đụt này, - ở đây tất cả bọn tôi đều gọi nó là thằng đụt, - bởi vì trong tình yêu những câu hỏi liên quan đến hạnh phúc cá nhân là quan trọng, cho nên tất cả cái đấy còn chưa rõ ràng và về tất cả cái đấy có thể muốn bàn luận thế nào cũng được. Cho đến giờ về tình yêu mới chỉ có một sự thật miễn bàn cãi đã được nói ra, và chính là: "Bí ẩn này là vĩ đại", tất cả những thứ còn lại, những gì đã được viết và nói về tình yêu, dù thế nào cũng đã đều không phải lời giải, mà chỉ là sự đặt lại những câu hỏi, những câu hỏi vậy là vẫn chưa có lời giải đáp. Một lời giải thích, mà tưởng như hợp lý đối với một trường hợp, đã lại không thể phù hợp đối với cả chục trường hợp khác, và cách tốt nhất, theo tôi, - là giải thích riêng từng trường hợp, mà không cố tìm cách tổng quát hóa nó. Cần phải, như các bác sĩ thường nói, cá nhân hóa từng trường hợp riêng.

- Hoàn toàn đúng, - Bu-rkin tán thành.

- Chúng ta, những người Nga, những người có nền nếp, được nuôi dưỡng bằng nỗi ám ảnh đối với những câu hỏi này, cũng không tìm được câu trả lời. Thông thường người ta làm thơ để ca ngợi tình yêu, trang điểm nó bằng những bông hồng, những con chim họa mi, còn chúng ta thì, những người Nga, trang điểm tình yêu của chúng ta bằng những câu hỏi tiền định này, vả lại còn chọn trong số chúng những câu ít hay ho nhất. Ở Mát-xcơ-va, lúc tôi còn là sinh viên, tôi đã có một người bạn gái tri kỷ, một quý cô dễ thương, mà mọi lúc tôi ôm nàng trong tay, nàng đều nghĩ đến việc tôi sẽ đưa cho nàng bao nhiêu hàng tháng và một pao thịt bò đang có giá bao nhiêu. Cũng như chúng ta, khi yêu, thì không ngừng tự hỏi: trung thực hay không trung trực, thông minh hay đần độn, tình yêu này sẽ dẫn đến đâu, v.v... Như thế là tốt hay không tốt, tôi không biết, nhưng chuyện cái đấy làm phiền, không thỏa mãn, gây bực mình - cái đấy tôi biết.

Có vẻ như, anh ta muốn kể gì đó. Những người sống cô độc luôn thường mang trong lòng cái gì đó như thế, cái mà họ rất sẵn lòng kể với người khác. Ở thành phố những người độc thân một cách có chủ định đi đến nhà tắm hơi công cộng và đến nhà hàng, chỉ để nói chuyện một chút, và đôi khi họ còn kể cho những người phục vụ trong nhà tắm hoặc bồi bàn những câu chuyện rất hay, còn ở nhà quê họ thường cởi lòng mình ra với khách khứa. Lúc này trong khung cửa sổ nhìn rõ bầu trời xám xịt và những thân cây ướt sũng vì mưa, trong thời tiết như vậy chả thể đi đâu và chả còn gì khác để làm ngoài việc kể chuyện và lắng nghe.

- Tôi sống ở Xô-phin-nô và làm ruộng đã lâu, - A-lê-khin bắt đầu, - từ khi tốt nghiệp đại học. Theo sự giáo dục được hưởng, tôi không phải người lao động chân tay, theo thiên hướng - là người làm việc văn phòng, nhưng liên quan đến tài sản, khi tôi trở về đây, đã có một khoản nợ lớn, vì bố tôi đã vay mượn một phần, để trả tiền học cho tôi, vì vậy tôi quyết định là sẽ không đi khỏi đây và sẽ làm việc, cho đến khi trả hết nợ. Tôi quyết định thế và bắt đầu làm việc ở đây, tự thừa nhận, là không phải không có những sự uất ức nhất định. Đất đai ở đây không sinh lợi nhiều, và, để sản xuất nông nghiệp không bị lỗ vốn, cần thiết phải sử dụng lao động của nông nô và nông dân thuê mướn, một hình thức cũng gần như thế, hoặc làm nông nghiệp theo kiểu nông dân, tức là tự làm việc trên đồng, cùng với gia đình mình. Không có cách trung gian khác. Nhưng tôi lúc đó đã không quan tâm tới những tiểu tiết đó. Tôi không để cho một mẩu đất đai nào được yên, tôi lùa ra đồng tất cả đàn ông và đàn bà từ những làng lân cận, công việc ở chỗ tôi sôi sùng sục một cách điên cuồng; tôi cũng tự cày, gieo cấy, và gặt hái và cùng lúc đó buồn chán và nhăn nhó uất ức, như một con mèo ở làng, vì đói mà phải ăn những quả dưa chuột trong vườn; thân thể tôi ê ẩm, và tôi nhiều lúc vừa đi vừa ngủ. Trong thời gian đầu tôi cảm thấy, là tôi có thể dễ dàng làm cho cuộc sống lao động này phù hợp được với những thói quen văn hóa của mình; để làm như thế chỉ cần, tôi đã nghĩ, gìn giữ trong đời sống những nền nếp hình thức đã quen. Tôi chuyển lên ở trên gác, trong những phòng lớn, và sắp xếp để sau bữa sáng và bữa trưa tôi phải được phục vụ cà-fê và rượu mùi và, trước khi đi ngủ vào ban đêm, tôi đọc "Bản tin châu Âu". Nhưng thế nào đó mục sư ở làng chúng tôi đã đến chơi, cha Ivan, và uống một lèo hết sạch rượu mùi của tôi; còn "Bản tin châu Âu" thì ra đi đến chỗ con gái ông, vì mùa hè, nhất là đang mùa gặt, tôi còn chưa tới được tới giường mình thì đã ngủ thiếp đi trong kho thóc trong xe ngựa hoặc ở đâu đó trong lán canh rừng - còn đọc gì nữa? Tôi chuyển dần, chuyển dần xuống gác, và bắt đầu ăn trưa trong bếp ăn tập thể, và từ sự xa hoa trước đấy, tôi chỉ còn lại mỗi một chị hầu phòng, người còn phục vụ luôn cả cho bố tôi và là người mà tôi sẽ rất đau lòng nếu phải đuổi đi.

Ngay trong những năm đầu tiên ở đây người ta đã bầu tôi vào tòa án hòa giải danh dự. Có lúc phải đi vào thành phố và tham gia những cuộc họp hành của tòa án khu vực, và việc đó đã làm tôi vui. Khi sống ở đây mà không hề đi đâu trong khoảng hai, ba tháng, đặc biệt là vào mùa đông, thì cuối cùng sẽ cảm thấy buồn chán vì phải nhìn thấy toàn áo khoác màu đen. Còn ở tòa án khu vực đã có cả áo khoác, cả sắc phục, cả áo đuôi tôm, tất cả, luật sư, những người có giáo dục; có người để nói chuyện. Sau phòng ngủ trong xe ngựa, sau bếp ăn tập thể giờ được ngồi trong ghế bành, bọc vải sạch, đi giày nhẹ, với một sợi dây móc trang điểm trên ngực áo - cái đấy mới xa xỉ làm sao!

Ở thành phố mọi người đón tôi rất thân mật, và tôi rất sẵn lòng làm quen với họ. Mối quen biết đậm đà nhất và, nói thật, dễ chịu nhất trong tất cả những mối quen biết, đối với tôi đã là sự quen biết với Lu-ga-nô-vích, phó chủ tịch tòa án khu vực. Cả hai vị đều biết anh ấy: một tính cách dễ thương nhất. Đấy là sau một vụ án hỏa hoạn nổi tiếng; cuộc xử án kéo dài hai ngày, chúng tôi đều mệt bã người. Lu-ga-nô-vích nhìn tôi và bảo:

- Bây giờ sẽ thế nào anh biết không? Về nhà tôi ăn trưa.

Việc này đã bất ngờ, vì với Lu-ga-nô-vích tôi mới quen biết một chút, chỉ một cách hình thức, và chưa đến nhà anh ấy lần nào. Tôi chỉ rẽ về phòng khách sạn một phút, để thay quần áo, và đến ăn trưa. Và ở đấy tôi đã có cơ hội làm quen với An-na A-lếch-xây-ép-na, vợ Lu-ga-nô-vích. Lúc ấy nàng còn rất trẻ, không quá hai mươi hai tuổi, và mới sinh con đầu lòng trước đấy nửa năm. Chuyện đã lâu, và bây giờ tôi cũng thấy khó xác định, cái gì, đặc biệt, ở nàng đã khác thường đến thế, khiến cho tôi thích đến thế ở nàng, trong khi trong bữa ăn trưa tất cả đối với tôi đã rõ ràng đến mức không thể cưỡng lại được; tôi đã thấy một người đàn bà trẻ, tuyệt vời, hiền dịu, trí tuệ, quyến rũ, người đàn bà như thế trước đây tôi chưa từng gặp bao giờ; tôi lập tức cảm thấy ở nàng một sự tồn tại gần gũi, như đã quen rồi, đúng là khuôn mặt ấy, cặp mắt thông minh, niềm nở ấy tôi đã nhìn thấy vào lúc nào đó từ khi còn bé, trong quyển an-bom, nằm trong tủ com-mốt của mẹ tôi.

Trong vụ án hỏa hoạn người ta đã kết tội bốn người Do Thái, người ta đã nhận ra tốp này và, theo tôi, hoàn toàn không có căn cứ. Trong bữa ăn tôi đã rất bồn chồn, tâm trạng tôi nặng nề, và tôi cũng không nhớ, tôi đã nói gì, chỉ nhớ là An-na A-lếch-xây-ép-na luôn lắc đầu và bảo chồng:

- Đờ-mi-tờ-ri, sao lại thế được?

Lu-ga-nô-vích - một người tốt bụng, một trong số những người giản đơn trong suy nghĩ, những người vững vàng giữ quan điểm, là một khi một người đã bị đưa ra tòa, thì, có nghĩa là, anh ta có tội, và việc biểu hiện sự nghi ngờ về tính đúng đắn của lời buộc tội không thể khác được, là phải theo những trình tự luật pháp, bằng giấy tờ, chứ không kiểu gì lại ở trong bữa ăn trưa hay là trong một cuộc nói chuyện riêng tư được.

- Chúng ta không gây hỏa hoạn, - anh ấy nói nhẹ nhàng, - và người ta không xét sử chúng ta, không nhốt chúng ta vào tù.

Và cả hai, chồng và vợ, cố gắng, để tôi ăn và uống được nhiều hơn; dựa vào một số tiểu tiết, dựa vào, ví dụ, như hai người họ cùng pha cà-fê, và dựa vào, cách họ hiểu nhau từ nửa lời nói, tôi có thể kết luận, là họ sống hòa thuận, hài lòng và họ thích có khách. Sau bữa trưa họ chơi dương cầm "bốn tay", rồi trời tối, và tôi trở về khách sạn. Đấy đã là vào đầu mùa xuân. Sau đó cả mùa hè tôi đã ở Xô-phin-nô không đi đâu cả, và đã không có lúc nào để thậm chí nghĩ đến thành phố, nhưng những hình ảnh về người đàn bà xinh đẹp duyên dáng vẫn luôn ở trong tôi trong suốt những ngày đó; tôi không nghĩ đến nàng, nhưng rõ ràng hình bóng nhẹ nhàng của nàng đã ở trong lòng tôi.

Vào cuối mùa thu ở thành phố đã có một buổi biểu diễn kịch với mục đích từ thiện. Tôi bước vào lô ghế của thống đốc (người ta đã mời tôi vào đấy trong giờ giải lao), nhìn thấy - ngồi bên cạnh bà thống đốc là An-na A-lếch-xây-ép-na, và một lần nữa vẫn một ấn tượng dâng trào, không thể cưỡng lại của sắc đẹp và cặp mắt dịu dàng, dễ thương, và một lần nữa vẫn một cảm giác gần gũi.

Chúng tôi ngồi cạnh nhau, rồi cùng đi ra phòng giải lao.

- Anh gầy đi, - nàng nói. - Anh bị ốm?

- Vâng. Vai tôi bị đau khi trời lạnh, và tôi ngủ kém những lúc trời mưa nhiều.

- Anh có bộ dạng đờ đẫn. Lúc đó, vào mùa xuân, lúc anh đến ăn trưa, trông anh trẻ hơn, phấn khởi hơn. Lúc đấy anh tràn đầy sinh lực và anh nói chuyện nhiều, anh rất hay, và, tôi phải thừa nhận, tôi thậm chí đã phải lòng anh ít nhiều. Vì sao đó trong suốt mùa hè anh thường xuất hiện trong trí nhớ của tôi và hôm nay, lúc tôi chuẩn bị đến nhà hát, tôi đã cảm thấy, là tôi sẽ gặp anh.

Và nàng phá lên cười.

- Nhưng hôm nay anh có bộ dạng đờ đẫn, - nàng nhắc lại. - Nó làm anh già đi.

Hôm sau tôi ăn sáng ở nhà Lu-ga-nô-vích; sau bữa sáng họ đi về nhà nghỉ ngoại ô, để thu dọn lại chỗ đấy chuẩn bị cho mùa đông, và tôi đi cùng họ. Cũng cùng với họ tôi đã quay trở lại thành phố và vào lúc nửa đêm tôi đã uống trà ở chỗ họ trong cảnh gia đình yên tĩnh, khi mà lò sưởi cháy sáng và người mẹ trẻ lúc lúc lại chạy đi xem con gái nhỏ của cô đã ngủ chưa. Và từ sau hôm đó mỗi lần đến thành phố tôi nhất định phải đến nhà Lu-ga-nô-vích. Họ đã quen với sự có mặt của tôi, và tôi cũng quen ở chỗ họ. Thường tôi đến không cần báo trước, như người nhà.

- Ai đấy? - nghe thấy giọng nói ngân nga từ một căn phòng ở tít trong nhà, giọng nói mà tôi thấy thật là tuyệt vời.

- Đấy là Pa-ven Kôn-xtan-chin-nức, - chị hầu phòng hoặc bà vú nuôi trả lời.

An-na A-lếch-xây-ép-na ra đón tôi với khuôn mặt lo âu và lần nào cũng hỏi:

- Sao lâu rồi anh không đến? Có chuyện gì không?

Cái nhìn của nàng, bàn tay thanh lịch, tao nhã, nàng chìa cho tôi, chiếc váy nàng mặc ở nhà, kiểu tóc, giọng nói, những bước chân, lần nào cũng gợi lên trong tôi cùng một ấn tượng gì đó mới mẻ, khác thường trong cuộc sống của tôi, và quan trọng. Chúng tôi chuyện trò rất lâu và im lặng cũng lâu, mỗi người với những ý nghĩ của riêng mình, hoặc là nàng chơi dương cầm cho tôi nghe. Còn nếu không có ai ở nhà, thì tôi ở lại và đợi, chuyện trò với bà vú nuôi, chơi với đứa bé hoặc nằm trong phòng nhỏ trên chiếc đi-văng Thổ nhĩ kỳ và đọc báo, và lúc An-na A-lếch-xây-ép-na về, thì tôi đón nàng ở phòng ngoài, đỡ hộ nàng tất cả những thứ nàng đã mua, và vì sao đó lần nào tôi cũng mang những thứ đồ mua sắm này cùng với một tình cảm, một thái độ trọng thể, đúng như một cậu bé.

Có một câu ngạn ngữ: "Người đàn bà mà không buồn phiền, thì sẽ mua lợn." Vợ chồng Lu-ga-nô-vích không buồn phiền, cho nên họ đã kết bạn với tôi. Nếu tôi lâu không tới thành phố, thì, nghĩa là, tôi bị ốm hoặc có chuyện gì đó xảy ra với tôi, và họ cả hai đều rất không yên tâm. Họ không yên tâm, là tôi, một người có giáo dục, biết các ngoại ngữ, thay vì làm khoa học hay văn chương, lại sống ở làng, xoay vần như con sóc trong vòng bánh xe, làm việc nhiều, nhưng luôn không một xu dính túi. Họ cảm thấy, là tôi phải chịu đựng và nếu tôi nói năng, cười, ăn, thì chỉ để dấu đi những sự chịu đựng của mình, và thậm chí trong những phút vui vẻ, khi tâm trạng tôi tốt, tôi đã cảm thấy trên mình những cái nhìn "tìm hiểu" của họ. Họ đã đặc biệt nhậy cảm, khi tôi thật sự cảm thấy nặng nề, khi một người chủ nợ nào đó gây áp lực với tôi hoặc tôi không đủ tiền để trả một món nợ cấp kỳ; cả hai, chồng và vợ, thầm thì cạnh cửa sổ, rồi anh ấy lại gần tôi và với một bộ mặt nghiêm túc, nói:

- Nếu anh, Pa-ven Kôn-xtan-chin-nức, ngay bây giờ cần tiền, thì tôi và vợ mong anh đừng ngại lấy của chúng tôi.

Và tai anh ấy đỏ lên vì bối rối. Và cũng xảy ra, đúng như thế, nói thầm cạnh cửa sổ xong, anh ấy lại gần tôi, tai đỏ lựng, và nói:

- Tôi và vợ nhất định mong anh phải nhận của chúng tôi, đây, món quà này.

Và đưa cho tôi những chiếc cúc áo điểm trang, hộp thuốc lá hay chiếc đèn, và tôi vì những món quà này sẽ gửi cho họ từ làng con chim săn được, bơ và những bông hoa. Nhân tiện cũng nói luôn, cả hai bọn họ đều là những người khá giả. Và trong thời gian đầu tôi thường phải vay nợ và không cần phải quan tâm lắm là vay ai, vay, chỉ cần có thể vay được, nhưng không có áp lực nào ép được tôi phải mượn tiền của Lu-ga-nô-vích. Vâng, có gì để nói về chuyện này!

Tôi đã không hạnh phúc. Cả ở nhà, cả ngoài đồng, cả trong kho thóc tôi đều nghĩ đến nàng, tôi cố gắng để hiểu điều bí ẩn về người đàn bà thông minh, xinh đẹp, trẻ trung, đã lấy một người chồng không thú vị, gần như là lấy một ông già (người chồng đã hơn bốn mươi), có con với anh ta, - cố hiểu điều bí ẩn về người chồng không thú vị này, một người tốt bụng, một người giản đơn, người chuyện trò với một đầu óc buồn tẻ như thế, trong các buổi vũ hội hay dạ hội luôn giữ mình ở bên cạnh những người đạo mạo, đờ đẫn, vô dụng, với biểu hiện thụ động, hờ hững, giống như là người ta mang anh ta đến để bán ở đây, và tin tưởng, mặc dầu vậy, vào quyền được hạnh phúc của mình, có con với nàng; và tôi vẫn cứ cố gắng để hiểu, vì sao nàng lại gặp chính anh ta, mà không phải tôi, và vì cái gì mà lại cần phải, để cho trong cuộc sống của chúng ta xảy ra một sai lầm kinh khiếp như thế.

Và khi đến thành phố, tôi luôn đọc thấy trong mắt nàng, là nàng chờ đợi tôi; và nàng tự thừa nhận với tôi, là ngay từ buổi sáng nàng đã có một cảm giác đặc biệt nào đó, nàng đã đoán, là tôi sẽ đến. Chúng tôi chuyện trò rất lâu, im lặng, nhưng chúng tôi không giãi bày với nhau về tình yêu của mình và che đậy nó một cách nhún nhường, khư khư. Chúng tôi đã sợ tất cả, những gì có thể mở toang bí mật của chúng tôi với chính chúng tôi. Tôi đã yêu một cách dịu dàng, sâu sắc, nhưng tôi tự vấn, tự hỏi mình, là tình yêu của chúng tôi có thể dẫn đến đâu, nếu như chúng tôi không đủ sức để chống lại nó; Tôi cảm thấy không chắc chắn lắm, là tình yêu buồn bã, lặng lẽ này của tôi một cách thô bạo bỗng phá vỡ đời sống hạnh phúc của chồng nàng, của con nàng, của cả căn nhà, ở đấy người ta đã yêu quý và tin tưởng tôi đến thế. Cái đấy có đúng đắn không? Nàng rất có thể đi theo tôi, nhưng đi đâu? Tôi có thể đưa nàng đi đâu đây? Còn nữa, nếu như tôi có một cuộc sống hay ho, đẹp đẽ, nếu như tôi, ví dụ, đã tranh đấu để giải phóng quê hương hoặc là một nhà khoa học, một nghệ sĩ, một họa sĩ nổi tiếng, còn nếu không chẳng qua chỉ từ một bối cảnh thường nhật, tầm thường, tôi buộc phải lôi kéo nàng sang một bối cảnh khác cũng y như thế hoặc còn thường nhật hơn nữa. Và hạnh phúc của chúng tôi liệu có thể kéo dài được bao lâu? Nàng sẽ ra sao nếu tôi ốm đau, chết hoặc đơn giản nếu chúng tôi không còn yêu nhau nữa?

Và nàng, có thể nhận thấy, cũng tự vấn đúng như thế. Nàng nghĩ về chồng, về con, về mẹ mình, người yêu mến chồng nàng, như con trai. Nếu như nàng buông xuôi theo cảm xúc của mình, thì buộc phải nói dối hoặc nói sự thật, mà ở vào hoàn cảnh của nàng thì cả việc này lẫn việc kia đều kinh khủng và bất tiện như nhau. Và nàng còn lo nghĩ với câu hỏi: tình yêu của nàng liệu có đem lại hạnh phúc cho tôi, nàng có làm phức tạp thêm cuộc sống của tôi, mà chưa có cái đấy vốn đã nặng nề, và đủ mọi điều không hạnh phúc rồi? Nàng cảm thấy, là nàng đã không còn trẻ so với tôi, không đủ chăm chỉ và mạnh mẽ, để bắt đầu một cuộc sống mới, và nàng thường nói với chồng, là tôi cần phải cưới một cô gái xứng đáng và thông minh, người có thể là một bà chủ tốt, một người có thể giúp đỡ tôi, - và nàng nói thêm ngay, là trong cả thành phố chắc chả tìm được một cô gái như thế.

Trong lúc đó năm tháng vẫn qua đi. An-na A-lếch-xây-ép-na đã có hai con. Lúc tôi đến nhà Lu-ga-nô-vích, chị hầu phòng mỉm cười niềm nở, lũ trẻ hét lên, là bác Pa-ven Kôn-xtan-chin-nức đến, và đánh đu lên cổ tôi; tất cả đều vui mừng. Không ai hiểu, những gì trong lòng tôi, và tất cả đều nghĩ, là tôi cũng vui mừng. Tất cả đều nhìn thấy ở tôi một người cao thượng. Cả người lớn lẫn trẻ con đều cảm thấy, có một người cao thượng đi lại trong phòng, và việc đó mang đến cho mối quan hệ giữa họ với tôi một sự quyến rũ đặc biệt nào đó, chính xác với sự có mặt của tôi và cuộc sống của họ trở nên trong sáng và đẹp đẽ hơn. Tôi và An-na A-lếch-xây-ép-na cùng đến nhà hát, lúc nào cũng đi bộ; chúng tôi ngồi trong những chiếc ghế bành cạnh nhau, vai chúng tôi chạm vào nhau, tôi im lặng cầm lấy chiếc ống nhòm xem hát từ tay nàng và lúc đó cảm thấy, là nàng thật gần gũi với tôi, nàng là của tôi, là chúng tôi không thể thiếu nhau, nhưng, vì một sự khó hiểu lạ lùng nào đó, ra khỏi nhà hát, chúng tôi lúc nào cũng tạm biệt và chia tay, như những người lạ. Ở trong thành phố đã nói về chúng tôi có trời biết những gì, nhưng từ tất cả, những gì người ta nói, đã chẳng có một từ nào đúng sự thật.

Trong những năm cuối An-na A-lếch-xây-ép-na bắt đầu ngày càng hay đi đến khi thì chỗ mẹ, khi thì chỗ chị; nàng thường có tâm trạng không dễ chịu, vì nhận thấy cuộc sống tồi tệ, không được thỏa ý, những lúc nàng không muốn nhìn thấy chồng, thấy con. Nàng đã phải điều trị chứng rối loạn thần kinh.

Chúng tôi im lặng và vẫn im lặng, và khi có mặt những người khác nàng hay chọc tức tôi một cách lạ lùng thế nào đó; cho dù tôi nói gì, nàng cũng không đồng ý với tôi, và nếu tôi tranh cãi, thì nàng đứng về phía đối thủ của tôi. Lúc tôi đánh rơi thứ gì đó, thì nàng lạnh lùng bảo:

- Chúc mừng anh.

Nếu, cùng nàng đến nhà hát, tôi quên không cầm theo ống nhòm, thì sau đó nàng bảo:

- Tôi đã biết, là anh sẽ quên.

May mắn hay là không may, trong cuộc sống của chúng ta không thường có những thứ, mà không kết thúc hoặc sớm hoặc muộn. Đã tới lúc chia tay, vì Lu-ga-nô-vích được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng một trong những tỉnh ở miền tây. Đã phải bán đồ gỗ, ngựa, nhà nghỉ ngoại ô. Khi chúng tôi đi đến nhà nghỉ, rồi quay trở về và ngoảnh lại, để lần cuối ngắm nhìn khu vườn, mái nhà màu xanh, thì tất cả mọi người đều buồn, và tôi hiểu, là đã đến lúc buộc phải chia tay với không chỉ một ngôi nhà nghỉ. Đã quyết định, là đến cuối tháng tám chúng tôi sẽ tiễn An-na A-lếch-xây-ép-na đi Cờ-rưm, các bác sĩ đã bảo nàng phải đến đấy, và trễ hơn một chút Lu-ga-nô-vích cùng bọn trẻ sẽ rời đến tỉnh lị miền tây của mình.

Chúng tôi, một đám đông, tiễn An-na A-lếch-xây-ép-na. Khi nàng đã từ biệt chồng và bọn trẻ và chỉ còn một khoảnh khắc nữa là đến hồi chuông thứ ba, tôi chạy tới cúp-pây của nàng, để đặt lên giá một trong những cái giỏ của nàng, mà nàng xuýt bỏ quên; và đã cần phải chia tay. Lúc ở đó, trong cúp-pây, ánh mắt chúng tôi gặp nhau, sức mạnh nội tâm đã rời bỏ chúng tôi, tôi ôm lấy nàng, nàng ấp mặt vào ngực tôi, và những giọt nước mắt lã chã rơi; hôn mặt nàng, đôi vai, những bàn tay, ướt nước mắt, - ôi, chúng tôi đã bất hạnh làm sao! - tôi giãi bày tình yêu với nàng, và với nỗi đau bỏng cháy trong tim tôi hiểu, đã không cần thiết, vớ vẩn và dối trá như thế nào tất cả những gì, mà đã cản trở chúng tôi yêu nhau. Tôi hiểu, là khi yêu, thì trong những lý lẽ của mình về tình yêu đó cần phải bắt đầu từ một thứ cao hơn, quan trọng hơn, so với hạnh phúc hay bất hạnh, tội lỗi hay đức hạnh với ý nghĩa thông thường của chúng, hoặc là không cần phải lý lẽ gì hết.

Tôi hôn nàng lần cuối, xiết chặt tay, và chúng tôi chia tay nhau - mãi mãi. Tàu đã chạy. Tôi ngồi vào cúp-pây bên cạnh, - nó đã bỏ trống, - và cho tới ga đầu tiên tôi ngồi đấy và khóc. Rồi tôi cuốc bộ về Xô-phin-nô...

Trong lúc A-lê-khin kể chuyện, mưa đã ngừng và mặt trời ló ra. Bu-rkin và Ivan Ivan-nức bước ra ngoài ban công; từ đó có thể thấy một khung cảnh đẹp đẽ từ khu vườn và cả đồng đất rộng, lúc này lấp lánh dưới ánh mặt trời, như một tấm gương. Họ mê mẩn ngắm nhìn và cùng lúc đó thấy lòng mình trắc ẩn, là con người có cặp mắt thông minh, hiền hậu này, người đã kể chuyện cho họ nghe với một sự cởi mở chân tình như vậy, thật sự đúng là đang xoay vần ở đây, trong cái nông trại rộng lớn này, như một con sóc trong vòng bánh xe, mà không làm khoa học hay một cái gì đó khác, cái có thể làm cho cuộc sống của anh ta dễ chịu hơn; và họ nghĩ về chuyện, gương mặt của người thiếu phụ đã phải đau khổ đến như thế nào lúc anh ta chia tay với nàng ở trong cúp-pây và đã hôn vào mặt vào vai nàng. Bọn họ cả hai đều đã gặp nàng ở thành phố, Bu-rkin thậm chí còn quen nàng và thấy nàng đẹp.