Chiến hào

2 ý kiến, và ý kiến từ facebook


"Pi-ca-rốp-xkôi" vào đầu thế kỷ 20 là tên gọi của một cánh đồng không rộng nằm ở ngoại ô Xanh Pê-téc-bua, thuộc sở hữu của lãnh chúa thuộc dòng họ Pi-ca-rốp-xki. Cuối những năm 30 cánh đồng này — đã bị bỏ hoang — đã trở thành nghĩa trang, cũng gọi là "Pi-ca-rốp-xki". Trong những năm Chiến Tranh Vệ Quốc Vĩ Đại và trong thời gian phong tỏa Lê-nin-gờ-rát, chỗ này là một trong những địa điểm chính để chôn những người chết.


Ở đây những đường hào đã được đào để làm mộ tập thể. Trong những nấm mồ đó, hơn 470 ngàn người đang yên nghỉ.



Hầu hết những nấm mộ "Pi-ca-rốp-xki" là mộ vô danh.



Здесь лежат ленинградцы.

Здесь горожане — мужчины, женщины, дети.

Рядом с ними солдаты-красноармейцы.

Всею жизнью своею

Они защищали тебя, Ленинград,

Колыбель революции.

Их имен благородных мы здесь перечислить не сможем,

Так их много под вечной охраной гранита.

Но знай, внимающий этим камням:

Никто не забыт и ничто не забыто.

Ольга Берггольц



Những người lê-nin-gờ-rát nằm ở đây.

Ở đây có những người dân thành phố — đàn ông, đàn bà, trẻ em.

Cạnh họ là những chiến sĩ hồng quân.

Bằng cả cuộc sống của mình

Họ đã bảo vệ Người, Lê-nin-gờ-rát,

Chiếc nôi của cách mạng.

Tên tuổi cao cả của họ chúng ta ở đây không thể đếm hết được,

Họ đông lắm dưới sự chở che của đá hoa cương.

Nhưng hãy cảm nhận, khi lắng nghe những tảng đá này:

Không ai bị quên lãng và không gì bị lãng quên.

Ôn-ga Béc-gôn

Vinh quang cho những người chiến thắng!

1 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Các cựu chiến binh thân mến! Kính thưa các công dân của nước Nga! Kính thưa các vị khách quốc tế! Thưa các đồng chí binh sĩ, thủy thủ, binh nhất, binh nhì, hạ sĩ quan! Thưa các đồng chí sĩ quan, các vị tướng, soái, đô đốc! Chúc mừng các vị nhân dịp lễ kỷ niệm Chiến thắng Vĩ đại!


65 năm trước chủ nghĩa quốc xã đã bị đập tan. Cỗ máy hủy diệt tất thảy các dân tộc đã bị dừng lại. Hòa bình đã trở lại với đất nước ta và với cả Châu Âu. Kết cục đã được đặt cho một hệ tư tưởng đang phá hoại mọi nền tảng của nền văn minh.


Liên bang Xô viết đã nhận về mình đòn tấn công chủ yếu của bọn phát xít. Chúng đã ném vào mặt trận phía đông ba phần tư lực lượng của mình. Chúng đã muốn đốt trụi đất nước của chúng ta. Nhưng chúng đã gặp phải một sự kháng cự chưa từng có về sức mạnh và lòng quả cảm.


Trận phòng thủ Mát-xcơ-va và Lê-nin-gờ-rát, trận Xta-lin-gờ-rát, vòng cung Kua-rờ-xcơ — đấy không chỉ là những giai đoạn của cuộc chiến đó. Đấy là máu và nước mắt, nỗi đắng cay thua trận và niềm vui chiến thắng, là những vết thương và cái chết của đồng đội. Và một lựa chọn — hoặc chiến thắng, hoặc trở thành nô lệ.


Cuộc chiến này đã làm cho chúng ta thành một dân tộc mạnh. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút mọi người đã ra quyết định. Trên chiến trường và ở hậu phương. Và trách nhiệm đặc biệt này đối với số phận của đất nước, các cựu chiến binh của chúng ta đã mang theo suốt cả cuộc đời mình. Các cựu chiến binh của chúng ta đã cho chúng ta điều chính nhất. Họ đã giành lại tự do cho chúng ta.


Thời gian có một uy quyền rất lớn. Nhưng nó yếu hơn ký ức của con người, yếu hơn ký ức của chúng ta. Chúng ta sẽ không bao giờ quên những người lính đã chiến đấu ngoài mặt trận; những người phụ nữ đã thay thế những người đàn ông ở trong các nhà máy; những đứa trẻ đã đi qua những ngày tháng khó khăn không thể hình dung được đối với lứa tuổi của các em. Tất cả họ là những người anh hùng của cuộc chiến.


Chiến thắng năm 45 không chỉ là chiến thắng của một cuộc chiến tranh, mà còn là Chiến thắng của nhân phẩm. Một Chiến Thắng chung. Tất cả các dân tộc thuộc Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết trước đây, đã đấu tranh vì nó. Các đồng minh của chúng ta đã làm cho nó đến gần hơn. Và hôm nay trong cuộc diễu binh trọng thể, những người lính của nước Nga, của các quốc gia Ét-En-Ghê và các nước đồng minh chống hít-le, sẽ cùng nhau sóng bước. Một hàng ngũ thống nhất duy nhất — bằng chứng cho sự sẵn sàng chung của chúng ta để bảo vệ hòa bình; không cho phép xét lại những kết quả của chiến tranh; không cho phép những thảm kịch mới.


Chiến tranh đã tước đoạt cuộc sống của hàng chục triệu người, là công dân ở nhiều lứa tuổi, ở nhiều đất nước, nhiều dân tộc, nhiều tín ngưỡng. Ở nước Nga thực tế trong mỗi gia đình đều có những người đã hy sinh hoặc mất tích trong chiến tranh; những người bị chết đói trong vòng vây phong tỏa; những người bị đốt trong những lò thiêu xác ở những trại tập trung. Không thể làm dịu nỗi đau này. Không thể nào quên. Sự tưởng nhớ vĩnh viễn dành cho họ.


Thưa các bạn! Những bài học của Chiến tranh Thế giới Thứ hai kêu gọi chúng ta phải đồng tâm nhất trí. Thế giới vẫn dễ tổn thương như cũ. Và chúng ta phải nhớ: chiến tranh không bắt đầu hôm trước hôm sau. Cái ác sẽ gây dựng sức mạnh, nếu mọi người lùi bước trước nó, nếu mọi người cố tình không nhận ra nó.


Chỉ có cùng nhau chúng ta mới có thể đương đầu với những hiểm họa ngày hôm nay. Chỉ trên cơ sở quan hệ láng giềng tốt chúng ta mới có thể giải quyết những vấn đề an ninh toàn cầu. Để những lý tưởng chính nghĩa và thiện tâm được khải hoàn trên toàn thế giới. Còn cuộc sống của những thế hệ tương lai sẽ tự do và hạnh phúc.


Các cựu chiến binh thân mến! 65 năm trước các bác đã giành lại hòa bình cho đất nước của chúng ta và cho cả hành tinh. Và các bác đã cho chính chúng tôi cơ hội sống. Xin được cúi mình thật thấp trước các bác. Chúc mừng các bác nhân ngày hội! Chúc mừng Ngày Chiến Thắng Vĩ Đại! Vinh quang cho những người chiến thắng! U-ra!


Ngày Chiến Thắng

3 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Những bài ca chiến thắng - 85.17 MB

1. Ансамбль Песни и Пляски Российской Армии - Священная Война (Cuộc chiến tranh thần thánh)
2. Оркестр Министерства Обороны - Прощание Славянки (Cuộc chia tay của cô gái Xla-vơ)
3. Евгений Агранович - Офицеры (Những người sĩ quan)
4. Юрий Гуляев - На Безымянной Высоте (Ở độ cao không tên)
5. Марк Бернес - Журавли (Những con sếu)
6. Михаил Ножкин - Последний Бой (Trận đánh cuối cùng)
7. Марк Бернес - Темная Ночь (Đêm tối)
8. Леонид Утёсов - В Землянке (Trong hầm)
9. Клавдия Шульженко - Синий Платочек (Chiếc khăn nhỏ màu xanh da trời)
10. Георгий Виноградов - Дороги (Những con đường)
11. Ансамбль Песни и Пляски Российской Армии - Смуглянка (Cô gái đen giòn)
12. Стахан Рахимов / Алла Иошпе - Алеша (A-li-ô-sa)
13. Ансамбль Песни и Пляски Российской Армии - Бери шинель (Cầm lấy áo ca-pốt)
14. Клавдия Шульженко - Где Же Вы Теперь, Друзья-Однополчане (Giờ này các anh ở đâu, các bạn đồng ngũ)
15. Георгий Виноградов - Катюша (Ka-chiu-sa)
16. Клавдия Шульженко - Давай Закурим (Nào hút thuốc đi)
17. Марк Бернес - Хотят Ли Русские Войны (Những người Nga có muốn chiến tranh không)
18. Марк Бернес - Москвичи (Những người Mát-xcơ-va)
19. Нина Ургант - Здесь Птицы Не Поют (Ở đây chim không hót)
20. Лев Лещенко - День Победы (Ngày chiến thắng)



— A lô...


— Tư lệnh Béc-linh đang nói đây. Có người Nga ở đấy không?


— Có.


— Họ đang làm gì?


— Đang hát.


— Cái gì?


— Vâng, họ đang hát, thưa ngài tư lệnh.


— ...


— Là tư lệnh Nga hay tư lệnh Đức đấy?


— Đức! Quỷ bắt bà đi! — Dập điện thoại, quay lại bảo Hít-le. — Họ đang ngây ngất lắm rồi.

Bài hát Mùa Thu

9 ý kiến, và ý kiến từ facebook







Mùa Thu, cả khu vườn đáng thương tan tác,

Lá vàng theo gió bay man mác...

(A-lếch-xây Kôn-xtan-chin-nô-vích Tôn-xtôi)


"Bài hát Mùa Thu". Tháng Mười. Mùa Thu ở nước Nga luôn là mùa được các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và nhạc sĩ hết lòng ca ngợi. Họ nhìn thấy trong Mùa Thu vẻ đẹp có một không hai của thiên nhiên Nga, vẻ đẹp đã được Mùa Thu mặc cho bộ trang phục hoàng kim, trút lên đó những màu sắc lộng lẫy muôn sắc độ của mình.


Nhưng, còn có những khía cạnh khác nữa của Mùa Thu — đó là phong cảnh buồn thảm, là cái chết của thiên nhiên mang tên "Mùa Thu" và nỗi buồn nhớ Mùa Hè — biểu tượng của sự sống — đã bỏ chúng ta mà đi. Cái chết của thiên nhiên vào đêm trước Mùa Đông — đấy là một trong những trang buồn bã và bi thảm nhất trong cuộc đời của Mùa Thu. "Bài hát Mùa Thu" chiếm một chỗ đặc biệt trong cả mười hai tháng của Trai-cốp-xki. Với bản sắc thê lương của mình, "Bài hát Mùa Thu" là tâm điểm nội dung hàm súc của cả mười hai tháng, hàm chứa tất cả sự tả thực về đời sống Nga và đời sống của thiên nhiên Nga.


Tháng Mười, "Bài hát Mùa Thu" — đấy là bài hát về cái chết của tất cả cái sống. Trong giai điệu của nó chủ đạo là những âm điệu buồn rầu — những tiếng thở dài. Ở giữa bài, có một chút khởi sắc, một sự phấn chấn đầy âu lo, giống như một tia hi vọng sống, một sự gắng sức để gìn giữ nó. Rồi sau đó, một lần nữa, bài hát lại trở về với "những tiếng thở dài" buồn bã ban đầu, và lúc này lại còn buồn hơn, vì trở về lần này là về với cái chết hẳn, hoàn toàn không còn một chút hi vọng sống dù là mong manh. Những câu nhạc cuối cùng của bài hát cùng với ghi chú của tác giả "morendo" — "chết dần", dường như đã không còn để lại một chút hy vọng bất kỳ nào về sự hồi sinh, về sự xuất hiện của một sự sống mới.


Bài hát Mùa Thu — đấy là một bức phác họa tâm lý trữ tình. Ở đó cảnh sắc và tâm trạng con người hòa quyện thành một. "Mỗi ngày tôi bắt đầu một cuộc dạo chơi xa, tìm thấy ở đâu đó một góc dễ chịu trong rừng và tận hưởng mãi không khí của Mùa Thu tràn đầy mùi lá rụng, tràn đầy sự tĩnh lặng và nét yêu kiều của cảnh sắc Mùa Thu với phối cảnh đặc trưng của nó", — nhạc sĩ đã viết.

Gió quê vi vút gọi...

11 ý kiến, và ý kiến từ facebook

LÁ DIÊU BÔNG

(Hoàng Cầm)


Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ.


Chị bảo

Đứa nào tìm được lá Diêu Bông

Từ nay ta gọi là chồng.


Hai ngày sau Em tìm thấy lá

Chị chau mày

Đâu phải lá Diêu Bông.


Mùa đông sau Em tìm thấy lá

Chị lắc đầu

Trông nắng vãn bên sông.


Ngày cưới Chị

Em tìm thấy lá

Chị cười xe chỉ ấm trôn kim.


Chị ba con

Em tìm thấy lá

Xòe tay phủ mặt Chị không nhìn.


Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

Đi đầu non cuối bể.

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời...

...ới Diêu Bông!


(1959)



... Vậy nên, cái lá Diêu bông là cái lá gì, ở đâu, nào tôi có biết. Thần linh đọc Diêu bông, tôi chép Diêu bông, thế thôi. Nhưng nó có nguồn gốc đấy. Năm 12 tuổi, tôi say mê một người con gái láng giềng hơn tôi những 8 tuổi. Vì từ năm lên tám, tôi đi trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương, chiều thứ bảy, mươi phút xe lửa lại đưa tôi về nhà, ở cái phố ga xép Như Thiết, tên chữ nhà ga đề là Núi Tiết, thực tên là Thiết Sơn, một tổng thuộc huyện Việt Yên. Phố ga ấy cách Hà Nội 44 km. Còn 6 km nữa thì qua cầu sông Thương (con sông Thương nước chảy đôi dòng), tới ga Phủ Lạng Thương. Đường số 1 chạy qua trước cửa nhà, sau lưng là đường xe lửa Hà Nội-Lạng Sơn ngăn cách với mảnh vườn nhỏ sau nhà bằng một hàng rào cắt xén khá đẹp trồng toàn những cây ruối, dâm bụt dày dặn. Nhà tôi có tủ thuốc Bắc của ông bố, có đôi bồ hàng xén của bà mẹ. Một chiều thứ bảy, khoảng hơn 4 giờ, tôi về chưa kịp bước vào trong nhà đã thấy một cô gái đang mua gì của mẹ tôi. Khi cô ấy ngửng đầu lên, nhìn ra đường thì cậu bé lên tám choáng người, như sau này người ta thường nói là bị “coup de foudre”. Người con gái đẹp đến mê hồn. Rồi thứ bảy sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa vẽ bướm, một vài ngọn núi, một dòng sông với chữ viết đậm, mực tím, nắn nót: Em gửi Chị Vinh của Em. ấy, sở dĩ mới bé tí đã làm được một trang thơ lục bát vì ở trên nhà trọ, chỗ thân tình với bố tôi, chủ nhà chính là ông sếp ga xép Núi Tiết ấy, gia đình ông trên tỉnh đông con, làm nghề hàng xay hàng xáo, đêm nào cũng xay lúa giã gạo rồi dần sàng quạt sẩy đến khuya. Tôi học bài, làm bài xong, tuy buồn ngủ, các anh các chị cứ bắt xuống nhà ngang, từ 9 giờ tối, đêm nào cũng phải đọc đủ các thứ truyện dân gian, in khổ nhỏ, bán rẻ từ 2 xu đến 1 hào, đủ các loại truyện, thể thơ lục bát, từ Trê cóc đến Truyện Kiều, từ Nhị Độ Mai đến Hoa Tiên, rồi Hoàng Trừu, Thạch Sanh, Phạm Công Cúc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Phạm Tải, cả Cung oán ngâm khúc đến Chinh phụ ngâm v.v… Vì thực ra, ngay từ bé tôi sớm có giọng hát hay, ngâm thơ cũng hấp dẫn người nghe lắm. Đọc hết lượt, phải đọc lại. Thể thơ lục bát thấm vào người từ nhỏ tuổi, mình lại bẩm sinh yêu thích thơ ca, nên tôi có viết bức thư tình gửi người gái Kinh Bắc, người Chị làm Em say mê ngơ ngẩn suốt năm năm ấy, mà thư tình lại viết bằng thơ lục bát thì hẳn không phải là điều gì đáng ngạc nhiên phải không, thưa các bạn? Tôi say mê Chị, Chị đi đâu Em theo đấy, chỉ biết gọi Chị ơi, chứ còn biết nói gì hơn. Người gái tuyệt sắc ấy con một nhà nho chẳng may chết sớm, ba mẹ con, mẹ goá con côi nghèo khổ, đèo bòng nhau lên cái phố xép này mở ngôi hàng bán kẹo bánh, nước chè tươi, nước vối, cả bánh đa, bánh đúc, bánh chưng, bánh mật, bánh khoai. Chị Vinh võ vẽ chữ nho, đọc thông Quốc ngữ, người quê gốc cũng Tiên Du, nên hát quan họ thì làm mê người ta ngang với nhan sắc của Chị. Chị cũng thừa biết thằng bé con này nó mê đắm mình nên Chị cứ hay trêu đùa, lắm lúc tôi phát khóc, nhưng cũng nhiều giờ phút tôi có một hạnh phúc không gì sánh bằng là được Chị Vinh cho ngồi sát bên Chị, chầu rìa những cuộc chơi tam cúc ngày Tết, ngày xuân hay ngày hội. Chị thường hay nhờ những đêm trăng sáng vào mùa hè, mùa thu, tổ chức những đám thanh thiếu niên tụ tập ở cái bãi sau ga, hát ví, hát trống quân, hát ống, hát giao duyên, hát vấn đáp, đặc biệt là về môn hát quan họ thì Chị là bà Chúa của dân ca! Giọng ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen thăm thẳm với hàng mi cong và dài, má luôn luôn ửng đỏ, môi luôn luôn đã hồng lại thường hay cắn chỉ quết trầu, răng đen rưng rức hạt na. Chị Vinh ơi, viết đến đây, Em vẫn bồi hồi nhớ từng sợi tóc Chị dán trên vầng trán, từng con mắt Chị lúng liếng tình tứ, từng giọng hát, từng lời nói, từng nụ cười, Em còn ngửi thấy hơi tóc ấm của Chị thoảng mùi hương nhu mới gội buổi chiều, mà nếu Chị buông tóc dài gần đến mắt cá chân để hong khô thì cả suối tóc ấy làm thành thế giới mê say của riêng Em từ độ ấy đến nay, dẫu tóc Em đã trắng hết, Em vẫn có thể vẽ đúng chân dung Chị tuyệt vời nếu có người chỉ dẫn cho Em đôi điều sơ đẳng về nghệ thuật hội hoạ. Ảnh Chị in mầu trong hồn Em, không một nhà khoa học nào có thể làm ra cho Em những tấm ảnh như Em đang có trong một mảnh hồn lả lướt xanh xao, trong một tâm tư u buồn chạng vạng mà vẫn còn đầy đủ và tươi tắn, nguyên vẹn những kỷ niệm từ sáu bảy chục năm xưa đấy, Chị ơi!


Tình của người Em với người Chị ấy, sơ lược là thế. Tôi sẽ viết tỉ mỉ hơn nhiều trong tập hồi ký sau này, để một số bạn ở xa quê hương hiểu kỹ về tôi hơn, tránh được những điều bình luận sai lạc thậm chí nguy hiểm nữa mỗi khi luận về những thi phẩm của tôi. Trong tập Về Kinh Bắc, thì hai nhân vật Chị và Em ấy đã xuyên qua năm tháng và không gian, qua mưa phùn và nắng rát, qua biết bao hình thái của tâm tư, của số phận, mà trội lên vẫn là cái sầu đơn phương, cứ vấn vương mãi, cho tôi nhớ mãi đến hết một kiếp này, biết đâu còn xót xa yêu thương vào tận kiếp sau… kiếp sau nữa…


Vậy chỉ mới sau vụ Nhân văn Giai phẩm có một thời gian ngắn, thơ của tôi đã lùi về quá khứ, chẳng biết có phải ẩn dụ ẩn diếc gì chăng, chỉ có điều là qua thời gian viết được ra 48 bài thành tập thơ Về Kinh Bắc này, tôi không một phút nào nghĩ đến thời cuộc chính trị và xã hội trước mắt. Tôi chìm về một quê hương xa, có thực mà như ảo ảnh, là ảo ảnh mà tưởng như gần gũi đâu đây, cứ chập chờn năm tháng và bảng lảng không gian, xanh mơ mong manh mầu kỷ niệm pha chút tím của tiếc hận, chút hồng của tuổi thơ, chút biêng biếc thắm của say mê não nùng, của thương cảm không có bến buông neo, và nhìn chung chỉ thấy con mắt của thời gian không hề suy suyển đến một sợi mi cong… Như gần đây tôi đã phải thốt ra: “Mắt thời gian càng miên man xanh“.


Rồi Chị, Em đi về Kinh Bắc, lúc thì đố “Lá Diêu bông”, lúc vào “Vườn ổi”, lúc “Đánh tam cúc”, lúc lên “Ngọn sông Thương”, lên tít “Ngọn Kỳ Cùng”, lúc “Đếm sao”, “Đếm nắng”, “Đếm giờ”, Em cứ theo đuổi Chị qua hội hè rồi qua cả những tàn tạ của cảnh vật và lòng người, cho đến mùa rét năm 1934. Cái lá Diêu bông bắt nguồn từ buổi chiều năm ấy, hình như vào dịp lễ Thiên chúa Giáng sinh, những bốn năm ngày liền tôi về gia đình ở cái phố ga xép đìu hiu ấy, nghĩa là cứ được nghỉ học thì tôi về ngay nhà với niềm say mê đơn phương, một chuyện tình có Chị có Em mà tôi vẫn chỉ là một khối cô đơn “lẽo đẽo bụi hồng”. Tôi đã 12 tuổi và chị Vinh đã 20. Vào chiều mùa đông năm ấy, nắng hanh vàng rộm. Trời xanh trong màn sương cực mỏng không một gợn mây. Heo may se se lạnh. Chị mặc váy kiểu Đình Bảng, áo cánh lụa mỡ gà đã cũ, có mảnh vá trên vai, ngoài bó chẽn lưng ong bằng cái gi-lê tím, sờn rách, chiếc yếm màu cánh sen đã nhạt, dây thắt lưng hoa đào phai, Chị thoăn thoắt đi ra ngoài cánh đồng, ngày ấy lúa đã gặt hết. Cả cánh đồng rộng đầu cái phố ga xép ấy chỉ còn trơ những cuống rạ tít tắp đến chân dãy núi Neo. Cậu bé Em 12 tuổi, vốn dĩ lúc nào cũng trông ngóng, ngó nhìn, chờ đợi Chị, thấy Chị đã bỏ cửa hàng chiều vắng khách, mặc cho đứa em trai lên sáu ngồi xua ruồi hoặc ăn vụng cái kẹo vừng, rồi thấy Chị bước nhanh ra cánh đồng, đương nhiên là cậu Em theo ngay, và bất kỳ đi theo Chị ở đâu, đến đâu, cũng chỉ cách sau lưng Chị có ba bước. Chị đi trên bờ ruộng, cứ vạch từng búi cỏ đầu bờ hoặc từng đám cây hoang dại trên mấy cái gò nhỏ giữa đồng và cứ cúi tìm… tìm mãi… chả biết Chị tìm gì vậy. Em cứ theo sau, không hỏi, không nói, trống ngực cứ thập thùng từng giây phút theo đuổi, miệt mài lâng lâng say. Lâu lắm, bỗng Chị đứng thẳng người quay mặt nhìn Em, rồi nói, như một lời trách, như một lời quở mắng, lại như một lời mình nói với chính mình (gần 60 năm rồi, hôm nay tôi còn nhớ như in từng lời trong bộ não đã hơi suy, trong tấm lòng may thay vẫn là tấm lòng 12 tuổi): “Ơ hay! Sao mày cứ theo tao lẵng nhẵng mãi thế nhỉ?”. Máu Em dồn lên nóng ran khắp người, hẳn là cậu Em đang đỏ mặt, môi Em run run, không nói lại với Chị được nửa lời. Hình như Em thoáng thấy Chị mỉm cười, rồi Chị lại bước sang bờ ruộng khác, vẫn tìm… tìm mãi. Nắng đã sẫm dần. Mãi sau, Em mới bạo dạn hỏi:


“Chị Vinh ơi! Chị đi tìm cái gì thế?”


Chị Vinh quay phắt lại, hình như má Chị hồng hơn lúc nãy. Chị nhìn thẳng, nhìn xoáy vào mắt Em và gần 60 năm rồi, tôi vẫn nhớ như vẽ cái miệng rất tươi của Chị đậm nét một nụ cười trêu cợt rất bí ẩn kiêu sa. Chị nói, cũng một giọng bỡn cợt như thách đố, như đùa vui trêu ghẹo:


“Ừ, Chị (các bạn chú ý giùm tôi cách thay đổi chủ từ trong câu nói này của Chị) Chị đi tìm cái lá… ấy đấy, đứa nào tìm được cái lá ấy (Chị càng cười càng rõ vẻ trêu cợt) ta gọi là chồng!”

...


Hà Nội những ngày cuối năm Nhâm Thân 1992


(Tám nhịp tuần du)

Động cơ vĩnh cửu (8)

2 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Chuyện tôi với lão giáo sư Mút-đờ-rốp ghét nhau ra mặt vốn là chuyện đã nổi tiếng khắp toàn trường. Lão thuộc hàng thày tôi; nhưng thày giáo ruột của tôi thì bây giờ là một vị đầu ngành, nổi tiếng cả ra quốc tế; còn lão bây giờ: cũng như tôi.


Và nói thế cũng là nói để đơn giản dễ hình dung, còn thực tế, cận trên của lão thấp, và lão đã đến đấy từ lâu; và lứa khoa học mới như tôi thì đã dẫm lên đấy chắc phải từ trước đây một chút; và tôi thì còn thuộc loại khá nhất lứa đấy; và trước đây lão cũng đã rất mâu thuẫn với thày tôi; và tôi cũng đang nghiên cứu cùng một vấn đề giống như lão, nhưng theo một cách tiếp cận mới, đang bộc lộ những ưu điểm rõ rệt.


Lão bắt đầu công kích tôi công khai — từ mấy năm trước. Thày tôi nhăn mặt trong một biểu hiện khó mô tả, bảo: “Hoàn toàn tùy em.” Tôi cố gắng xử sự lễ phép và đúng mực — tức là phải nhẫn nhịn nhiều. Và có lẽ đã đủ nhiều đến mức tạo thành vài nét ngoại hình, mà người tinh ý có thể nhận ra.


— Chuyện lão Mút-đờ-rốp, chú cứ thế đ’ được! — Một lần, độp một cái, chả ăn nhập vào đâu, Đào Phò nhổ nước bọt xuống sông, bảo tôi; hôm ấy trời nắng đẹp, chúng tôi đang đi chơi trên tàu sông.


— Thế em... biết làm thế nào? — Tôi biết y đã bằng cách nào đó nắm được đủ thông tin cần thiết rồi mới nói chuyện với tôi.


— Sao phải nhịn nó thế?


— Ông ấy là thày... là hàng thày em.


— Thế nếu nó dốt và bẩn, nhưng nó cứ già hơn chú, anh nói già hơn, nhá, chú đừng làm nhục chữ “thày” của anh, thì nó cứ muốn làm đ’ gì chú thì làm à?


— Cũng... không hẳn thế, em vẫn làm tốt việc của em.


— Tốt, nhưng không tốt bằng nếu không có nó. Chú vẫn khó chịu, tâm trạng, đầu óc chú vẫn bị ảnh hưởng, còn cãi?!!


— ...


— Tựu chung, khoa học, tiến hóa, sự phát triển chung bị thiệt.


— Em nghĩ tất yếu... cuộc sống thế, ai chả phải có lúc nhường người này người kia, nhịn chuyện này chuyện khác...


— Đã đành. Nhưng nhường hay nhịn cũng phải có nguyên tắc. Và chú, nếu như không phải cảm tính vô nguyên tắc mà đang theo nguyên tắc, thì nguyên tắc của chú đang sai.


— Khổng Phu Tử sẽ không nói như bác.


— Đã là Khổng Tử, nói đ’ gì chả được? Cho mê-la-min vào sữa trẻ con cũng là con cháu Khổng Tử đấy.


— Là bác dẫn, nhá. Đã có Khổng Tử, mà còn thế, không có, thì còn thế nào?


— Ừ, hơn tỉ con động vật tiến hóa dở, đ’ có Khổng, khác đ’ giòi. — Tôi tưởng y đã chịu chốt hạ, nhưng y lại cười khỉnh khỉnh. — Nhưng bọn đấy chắc cũng hiểu Khổng như chú, cho nên bây giờ mới mê-la-min thế.


— Thế theo bác, Khổng sẽ bảo gì em?


— Khổng chả bảo đ’ gì hết! Chú là thằng đ’ nào? Các chú đông bỏ con mẹ, Khổng bảo thế đ’ riêng từng thằng? Khổng dựng lên, bằng suy luận lô-gích, một hệ thống lý thuyết hoành tráng, để bảo riêng với những thằng như anh, là những thằng có đủ trí tuệ và cơ duyên để hiểu được hệ thống ấy... Ây Linh, Linh... anh với!


Nhật Linh, hai mắt kính đen đè lên tóc đang bay tứ tung, vừa cười tươi như hoa vừa chạy lại từ phía mũi tàu, một tay cầm một cái kem ốc quế, một tay cầm một cái kẹo mút; mắt Đào Phò sáng lên chăm chú, y rất lưỡng lự, y thò tay ra, rồi lại rụt lại, ngón tay co quắm, mấy đầu ngón tay bóp bóp vào nhau, vân vê...


— Chú đã chọn khoa học; hay anh nhầm? — Má bên phải y gồ lên, tròn xoe.


— ...


— Thế thì cái mà chú phải đối mặt, chả nhẽ lại là ba cái chuyện cố gắng nhường nhịn những thằng như Mút-đờ-rốp? Anh hiểu là chú vẫn phải nghĩ đến chuyện nhường nhịn, rồi đến lúc anh nói, thì ý nghĩ của chú lại quanh quẩn ở cặp “nhường — không nhường”. Và cái sai là ở đấy.


— ...


— Bản chất đ’ phải chuyện nhường, không nhường. Cái đấy đ’ quan trọng. Nhường hay không nhường, lúc thì nhường, lúc thì không nhường, thế đ’ nào cũng được; quan trọng là nó không được ảnh hưởng đến chuyện chú đang chết, đời chú hữu hạn, và chú đã chọn khoa học.


Bây giờ cả trường tôi đang sôi động hết cả lên vì chuyện lão Mút-đờ-rốp và tôi được cử đi công tác biệt phái: hai tháng rưỡi, chỉ có hai người, ở cùng nhau, ở một chỗ rất hẻo lánh.


(Còn tiếp)

Động cơ vĩnh cửu (7)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Ông Trời cũng đểu, hình như luôn có ý áp đặt một cái ngưỡng kiến thức nào đó cho những kẻ căn cơ, và chỉ hé mở ở trên những ngưỡng đó những kiến thức hay ho, tinh túy nhất cho những tên lãng tử. Tất nhiên, mặc dù anh Tuấn là một thợ mộc giỏi — giỏi gia truyền hẳn hoi — nổi tiếng ở cả vùng này, và có một gia sản khang trang, nhưng tôi cũng không ngây ngô đến mức có ý đem anh ra so với Hen-ri Phót hay Bin Ghết, và không nhố nhăng đến mức có ý đem mình ra so với Lê-ô-na Đờ Vanh-xi hay Niu Tơn; nhưng cái ý nghĩ trên về những kẻ căn cơ và những tên lãng tử đã tự nhiên đến trong đầu, lúc tôi đã tìm được một tờ giấy trắng và một cái bút bi xanh rồi ngồi vừa cắn bút, vừa gạch đầu dòng ra trên giấy những thứ mà tôi cho là cơ bản nhất, để sẽ “chuyển giao công nghệ” cho anh Tuấn.


Và đồng thời với ý nghĩ kia, thì còn có một ý nghĩ khác, ý nghĩ này gây ra một cảm giác hơi tò mò, là lạ: tôi chưa bao giờ có thể nghĩ... mà chưa đến mức nghĩ, tôi chưa bao giờ có thể hình dung là có một lúc nào đó mình lại có thể đang làm một việc như tôi đang làm bây giờ. Cho đến thời điểm này, hình như tất cả những người giống như anh Tuấn mà tôi đã gặp đều không giống như anh Tuấn.


Cái “giống” là tôi muốn nói về những người mà bằng những cách giống hoặc khác nhau nào đó, đều đã tìm cho mình được một phương cách mưu sinh tương đối tốt trong so sánh chung.


Còn cái “không giống” thì hơi khó giải thích ngắn gọn, hơn. Thế này, hồi đầu mới về thăm quê hương, có một lần tôi đã bị ngạc nhiên đến mức không quên, khi có một chú, thậm chí gọi là bác cũng được, lớn, đã có vợ và hai con, điềm nhiên tuyên bố với một nụ cười rất mãn nguyện: “Mặc dù tôi ít học, nhưng bây giờ mỗi tháng tôi vẫn kiếm được mấy ngàn đô, có sao đâu?”


Lúc đấy tôi chỉ gắng nhịn cười và cố để không có biểu hiện gì có thể mang một ý nghĩa bất nhã, và nghĩ rằng đấy chỉ là một trường hợp tương đối riêng. Nhưng sau đấy, khi đã có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với những người đồng quê hương với tôi, thì tôi hiểu đây là nhận thức rất chung.


Thêm một chút thời gian, thì tôi còn hiểu thêm, là đây là kiểu nhận thức rất chung: vì nó không chỉ dừng lại ở cặp “Học vấn — Thu nhập”, mà còn được mở rộng đến vô số những cặp khác: “Học vấn — Mỹ cảm”, “Tiền tài — Đạo đức”, “Năng lực mình — Năng lực người”, và đặc biệt, nhất là ở các bạn gái, là “Ngoại hình — Nội tâm”, “Ngoại hình — Hạnh phúc”...


“Mặc dù tôi dốt nhạc, nhưng tôi nghe Xô-panh vẫn thấy hay, và thế là quan trọng nhất, cần gì phải biết nhạc? Bố mẹ tôi hồi trước thừa sức mua pi-a-nô, nhưng có các tiền tôi cũng không đổi tuổi thơ hồn nhiên của mình lấy những giờ học nhạc nặng nề.”


“Mặc dù tôi ít tiền, nhưng đấy là vì tôi luôn đề cao đạo đức, chứ không cầu lợi.”


“Mặc dù tôi chỉ học hết trung cấp, nhưng mấy thằng đại học ở cơ quan bị tôi sai như chó.”


“Mặc dù thằng ấy giỏi, nhưng chữ tài liền với chữ tai, chả tốt đâu.”


“Mặc dù mình xấu, nhưng cái nết đánh chết cái đẹp.”


“Mặc dù con ấy xinh, nhưng vừa bị chồng bỏ, hồng nhan bạc phận, đau khổ lắm.”


“Mặc dù mình lùn, nhưng lùn hạt tiêu, bọn cao to mười thằng thì chín thằng rưỡi ngu hơn mình, há há...”


Có gì đấy hơi khó lý giải trong cái đã trở thành mang tính hệ thống này. Và lúc mới giao du với Phi Long, thấy có nhiều điểm hợp ý, thì đây cũng đã là một trong những chủ đề mà tôi đã mang ra trao đổi ngay. Câu trả lời của y đã làm tôi hơi sửng sốt:


— Một phần rất lớn là vì Đạo Phật! — Y hầu như không nghĩ ngợi, khẳng định luôn.


Nếu là người khác, thì xác suất lớn là tôi sẽ nghĩ ngay đây là kiểu chém gió để gây ấn tượng, nhưng y thì không; tôi biết thế, mặc dù tôi cũng chỉ mới giao du nhiều nhiều với y trong thời gian gần đây thôi.


Cũng cần nói thêm, Đạo Phật cũng là một trong những hệ thống mà tôi đã cố gắng nhiều để mày mò tìm hiểu một cách có hệ thống nhất. Cho nên, một cách vì hiểu biết nên từ tốn, tôi đã trình bày y nghe tương đối cặn kẽ quan điểm của mình về vấn đề này — bênh vực Đạo Phật, tất nhiên.


Y nghe rất chăm chú, mắt ánh lên ở những chỗ hay — đa phần cũng trúng những chỗ mà bản thân tôi cũng tâm đắc. Nhưng lúc tôi đã trình bày xong, thì y chả đồng tình cũng chả phản đối gì, mà nói ngay sang một chuyện khác:


— Đạo Thiên Chúa sẽ là một đề xuất hợp lý hơn!


Hồi mới vào đại học, tôi đã đọc Kinh Thánh, cặm cụi đọc hết bản Vua Giêm, và cả bản “đọc — kể” của Pearl Buck; nhưng quả thực tôi chỉ đọc như đọc truyện, — một kiểu truyện thần thoại, — tôi thích kiểu văn viết trong đấy, tôi thích những cái như thế này:


Và, hãy nhìn xem, đã phát sinh một trận bão lớn trên biển, đến mức mà con thuyền đã bị che phủ bởi những làn sóng: nhưng Người đã ngủ.

Và những môn đồ của Người đã đến chỗ Người, và đã đánh thức Người, nói rằng, Đức Chúa, hãy cứu chúng tôi: chúng tôi bỏ mạng.

Và Người nói với họ, Sao các người lại sợ hãi, Ôi các người những kẻ thiếu lòng tin? Rồi Người đứng lên, và đã quở trách những cơn gió và biển cả; và đã có một sự yên lặng mênh mông.

Nhưng mọi người đã ngạc nhiên, nói rằng, Đây là loại người nào, mà thậm chí những cơn gió và biển cả nghe lời ông ấy!


Hơn nữa, hồi đấy, tôi như kẻ khát nước lúc nào cũng cần kịch bản, cần điển tích để bi bô với bọn con gái, và cũng phải nhận luôn, là có khi còn xuất sắc hơn cả Kim Bình Mai, những cái Vua Giêm với Pearl Buck đấy, nếu biết thêm thắt, biến tấu, du dương vào, thì không hiểu sao, bọn con gái rất nhiều đứa rất thích nghe.


Lúc đấy ấn tượng của tôi chỉ là ở đấy đầy những chuyện mặc dù đa phần hay, nhưng hoang đường; chỉ cho đến gần đây, tôi mới bắt đầu cảm thấy ở tôi bắt đầu có cái gì đó lờ mờ giống như mong muốn tìm hiểu kỹ hơn — với một số vấn đề, thỉnh thoảng tôi vẫn có cảm giác như vậy, một cách hết sức tự nhiên. Và tôi rất thích cảm giác ấy, luôn rất mừng khi thấy nó xuất hiện; và vì đã phần nào quen với kiểu quá trình nhận thức được hình thành như vậy, nên tôi hiểu là với vấn đề này, Phi Long đã qua cái đoạn đấy trước tôi.


Bằng vào thái độ tiếp tục khẳng định lần này của y, tôi hiểu là y cũng đã từng lăn tăn, và đã thông suốt chuyện này, cho nên tôi yên lặng, chờ nghe tiếp.


Y gần như tiếp tục ngay:


— Cả hai đạo này, mà nói chung các đạo, cấu trúc hệ thống đều là đưa ra một cách lý giải về sự tồn tại của con người — có thể nói là chính về mối lăn tăn sâu kín nhất một cách bản ngã trong mỗi một con người không bị dị tật; rồi tìm cách truyền đạt, gợi ý, chỉ dẫn cho người ta những hành vi tồn tại trong cuộc đời sao cho phù hợp nhất với cách lý giải đó.


— ...


— Cho nên, về nguyên tắc thì Đạo Phật hay Đạo Thiên Chúa, về ý nghĩa thì đều không khác nhau lắm.


— ...


— Điểm không phù hợp ở đây, là cách truyền đạt. — Y tự dưng phì cười. — Ở vũ trường, chú hay bảo bọn nó chơi nhạc... cái kiểu gì... mặc may ô...


— “Tất cả các tác phẩm kinh điển đều được gái mặc xi-líp nhảy và hát theo nhịp hai bốn và giai mặc may ô đệm ầu-ía” — Tôi cũng cười, nhắc lại nguyên văn lời mình.


— Đấy đấy... — y vẫn cười chưa hết, cúi đầu lắc lắc, ấn ngón tay vào trán, — bây giờ cứ mang Bết-thô-ven vào vũ trường với xuống tàu điện ngầm mà chơi suốt như thế, rồi sẽ thế nào?


— ...


— Tất nhiên, có nhiều người sẽ bảo đấy là cách hợp lý để nhiều người có thể thưởng thức được Bết-thô-ven hơn. Công nhận nhiều hơn thật, nhưng đấy có phải Bết-thô-ven nữa đâu?..


— Ừ, giống Bát-ô-tô hơn. Theo anh thì Đạo Phật, cách truyền đạt của nó, cũng “vũ trường”, “tàu điện ngầm”?


— Ừ.


— ...


— Thuyết Tương Đối có phổ cập được không?


— ...


— Thế muốn có nhiều người hiểu được Thuyết Tương Đối hơn thì phải làm thế nào?


— Ừ, chắc... nên làm cho quần chúng tin là đứa nào hiểu được Thuyết Tương Đối thì bướm sẽ tỏa hương thơm ngát, giai theo cả đàn.


— Ừ, hoặc chim sẽ đặc biệt nổi cộm, gái theo cả đàn... cứ tin như thế, mù quáng một tí cũng được, rồi ai, có thể một phần vì tin thế, mà tích lũy được đủ kiến thức, thì sẽ hiểu được; mà cái này, thì chắc cũng phải cơ duyên một chút.


— ...


— Còn hơn là... như hai anh gì... mà lên báo ấy nhỉ...


— Anh nói anh Cường và anh Trí?


— Ừ, tại nghĩ là Thuyết Tương Đối là đơn giản, dễ hiểu, ai cũng có thể hiểu được đấy. Mà Thập Nhị Nhân Duyên, chú có nghĩ là dễ hiểu hơn Thuyết Tương Đối không?


— À, — tôi chợt liên tưởng, tính tôi ít khi nghiêm túc được một lúc lâu, — cái này thế nào mà y hệt chuyện đào tạo đại học ở quê mình. Đại Học ở Việt Nam bây giờ có khi phải gọi là Đạo Đại Học mới phải...


— Chú chưa gọi thế thì sinh viên ở nhà bọn nó đến kỳ cũng đều đều mang chuối oản đến dâng “bán tự vi Sư” rồi đấy.


— Công nhận, em thấy sinh viên đi học bây giờ, nhiều đứa cũng cạo đầu trọc lốc... À, — tôi đang cười gật gù thì chợt cau mày đắn đo, rồi rụt rè, — nhưng mà... còn điểm này, nhá... dù sao, nếu chỉ he hé được những thứ như kiểu “quẳng gánh lo đi mà vui sống” thì dù sao, cũng vẫn tích cực... Không, có khi cái này... cái phân tích kiểu này... như ban nãy, có thật ổn không?


— Hì... — y phì cười, — Phật mà chỉ đơn giản các cô các chú chỉ cần cố sống cho vui vẻ là ổn, Anh-xtanh mà chỉ đơn giản các cô các chú chỉ cần nhớ thời gian và không gian chỉ là tương đối, thì bây giờ chú với anh liệu có biết Phật với Anh-xtanh là ai không?


— Nhưng cụ thể “quẳng gánh lo đi...” — tôi tiếp tục câu bài.


— Nếu đúng là người, thì ai cũng sinh ra cùng với cả “lo” và “vui”; cả hai thứ đấy, chúng đều có quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc như nhau. Cái lý gì bảo tăng cái này lên, triệt cái kia đi thì tốt hơn? Như thế đứa nào đẻ ra mà bị hỏng sẵn, hỏng luôn cái “lo” đi rồi, thì sẽ tốt hơn à? Cách suy nghĩ như vậy... thật là thiếu tính nhân bản!


— Ừ, cái “lo” với “vui” này em thấy thế nó cũng tương tự như “đau” với “sướng”. Bình thường chả ai thích bị “đau”, nhưng bây giờ thử hình dung... nếu mất mất cảm giác “đau”, thì nó thành thế đ’ nào? Một đứa như thế, sống kiểu đ’ gì? Thậm chí đang chết cũng đ’ biết. Mà còn... với cả... quẳng là quẳng thế đ’ nào, nhiều lúc, cũng phải vừa “đau”, vừa “sướng”, thì nó mới...


Tôi đã hiểu là về chuyện này y cũng giống tôi. Ừ, Bát-ô-tô ầu-ía cũng vui bỏ mẹ, mà đ’ ai Phật lại chỉ dạy có thế. Bản chất đ’ phải là có nên lo không, có nên vui không, có lo không, có vui không, đã là người thì nó thế rồi, không với không nên cái đ’ gì nữa; quan trọng là lo cái gì, vui cái gì. Giống người hơn, hay giống khỉ hơn, bản chất chắc đều ở đấy cả... Tôi bảo y:


— Này... râu tóc anh bao lâu rồi đ’ gọt?


— Chắc... — cái nhìn của y bị ngỡ ngàng, y sờ sờ cằm, tự nhiên đỏ mặt, như con gái.


— Sẵn râu tóc, tối ở nhà, em chở cả bọn kia qua, rồi đi ầu-ía phát.


Ở anh Tuấn, còn có một điểm “không giống” nữa...


(Còn tiếp)

Rằm tháng giêng

8 ý kiến, và ý kiến từ facebook

RẰM THÁNG GIÊNG


Trăng vừa tròn đủ, Rằm tháng giêng,

Sông, nước, trời xuân nối nối liền;

Khói sóng vùng sâu bàn chiến sự,

Khuya về thuyền chở ánh trăng đêm.



NGUYÊN TIÊU


Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.


Dịch nghĩa


RẰM THÁNG GIÊNG


Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,

Sông xuân nước xuân liền với trời xuân;

Ở chỗ sâu trong khói sóng bàn việc quân sự,

Nửa đêm trở về trăng đầy thuyền.

Theo chân Bác

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Theo chân Bác

(Tố Hữu)



Tháng năm ơi có thể nào quên.

Hàng bóng cờ tang thắt dải đen.

Rủ giữa lòng đau ta nhớ mãi

Cuộc đời như ngọn lửa đầu tiên.


Tôi viết bài thơ mừng thọ Bác.

Năm nay vừa tuổi 80 tròn.

Chắc như thường lệ người đi vắng.

Để mọi lời ca tặng nước non.


Tôi viết bài thơ cho các con.

Mai sau được thấy Bác như còn.

Phơ phơ tóc bạc chòm râu mát.

Đôi dép mòn đi in dấu son.


Xin nhớ từ đây nhớ lại ngày.

Bác Hồ từ giã cõi hôm nay.

Bảy mươi chín tuổi xuân trong sáng.

Vào cuộc trường sinh nhẹ cánh bay.


Lạ thay, sức mạnh của tâm hồn

Mắt vẫn tươi như suối tận nguồn

Tay nhịp cho đời cao tiếng hát

Trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn.


Như thế, Người đi... Phút cuối cùng

Nhẹ nhàng, thanh tịnh, rất ung dung

Lời Di chúc gửi, êm bên gối

Quên nỗi mình đau, để nhớ chung.


Bác ơi!


Thôi đập rồi chǎng? một trái tim

Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim!

Muốn òa nức nở bên em nhỏ

Nước mắt ta đành nuốt, lặng im.


Cứ nghĩ: Hồn thơm đang tái sinh

Ngôi sao ấy lặn, hóa bình minh

Cơn mưa vừa tạnh. Ba Đình nắng

Bác đứng trên kia, vẫy gọi mình.


Súng hãy gầm lên, nén xót đau

Hãy lau ráo lệ, ngẩng cao đầu!

Chỉ xin nhớ để lời đêm trước:

Đốt pháo hoa mừng, đến lễ sau.


Bác đi... Di chúc giục lòng ta

Cho cả muôn đời một khúc ca

Lẽ sống, niềm tin, mong ước lớn

Và tình thương, ơn nghĩa bao la.


Tôi trở về quê Bác, làng Sen

Ơi hoa sen đẹp của bùn đen!

Làng quen như thể quê chung vậy

Mấy dãy ao chua, mảnh đất phèn.


Thǎm lại vườn xưa, mái cỏ tranh

Thương hàng râm bụt, luống rau xanh

Ba gian nhà trống, nồm đưa võng

Một chiếc giường tre, chiếu mỏng manh.


Ôi sáng hè vui, Bác trở về

Vẫn không quên lối cũ, tình quê

Bạn xưa, còn nhớ khi câu cá

Nhớ quả cà ngon, nhớ gốc chè...


Nhớ những nǎm nao... Máu Cửa Rào

Thân yêu hai tiếng gọi "đồng bào"

Phận nghèo, nước mất, dân nô lệ

Đêm tối, trời mây, chẳng ánh sao.


Đã tắt lâu rồi, lửa nghĩa quân

Phan Đình Phùng đó, Tống Duy Tân

Nguyễn Trung Trực lại Hoàng Hoa Thám

Đầu dám thay đầu, chân nối chân!


Muôn dặm đường xa, biết đến đâu?

Phan Chu Trinh lạc lối trời Âu

Phan Bội Châu, câu thơ dậy sóng

Bạn cùng ai, đất khách dãi dầu?


Cha đã đi đày, đau nỗi riêng

Còn nghe tiếng gót nặng dây xiềng...

Mẹ nằm dưới đất, hay chǎng hỡi

Xin sáng lòng con ngọn lửa thiêng!


Từ đó, Người đi... những bước đầu

Lênh đênh bốn biển, một con tàu

Cuộc đời sóng gió. Trong than bụi

Tay đốt lò, lau chảo, thái rau.


Mở mắt trông quanh, màu sắc mới

Những bờ bến lạ, nước nông sâu

Á, Âu đâu cũng lòng trong đục

Vàng máu chia hai cảnh khổ giàu.


Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen

Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn

Một hòn gạch nóng nung tâm huyết

Mẩu bánh mì con nuôi chí bền.


Bao nẻo người đi, bước trước sau

Một câu hỏi lớn: Hướng về đâu?

Nǎm châu thǎm thẳm, trời im tiếng

Sách thánh hiền lâu đã nhạt màu.


Gǎng-đi, quay lại chiếc xa xưa

Dệt tấm lòng nhân đựng gió mưa!

Nghiệp lớn, Tôn Vǎn vừa dựng đó

Trǎm nǎm tay lái vững vàng chưa?


Ôi nhân loại! Địa cầu cháy bỏng

Lò sát sinh ngập máu xương rơi

Lũ đế quốc như bầy quỉ sống

Nướng người ǎn, nhảy nhót, reo cười.


Bỗng sấm nổ, Rạng Đông chớp giật

Hoan hô Cách mạng tháng Mười Nga!

Tủ sắt ngai vàng quǎng xuống đất

Công nông ta làm chủ đời ta.


Xóm thợ Pa-ri nghèo cuối ngõ

Tưng bừng gác trọ đón bình minh

Mác — Lê-nin đến... Từng trang đỏ

Chân lý đây rồi, lẽ tử sinh!


Đứng dậy! Ơi Người cùng khổ ơi!

Tiếng chuông ta đánh, giục liên hồi

Hãy bay đi, hãy bay qua sóng

Về nước non xa, thức tỉnh đời...


Tháng Giêng, Mạc-tư-khoa tuyết trắng

Một người đi, quên rét buốt xương

Từ xa đến... Lòng đau trĩu nặng

Giữa dòng người im lặng trên đường.


Anh tìm ai? Lê-nin vĩ đại

Tinh hoa trái đất, chất kim cương

Con người đẹp nhất trong nhân loại

Trí tuệ, tình yêu của bốn phương.


Lê-nin ơi, Người Thầy, Người Cha

Niềm tin trong sáng mãi lòng ta

Đêm nay nằm đó, mà thanh thản

Vầng trán mênh mông tỏa chói loà.


Tưởng nghe tiếng Người vang giục bước

Hãy trở về châu Á trẻ trung

Hỡi người trai Việt Nam yêu nước

Thổi bùng lên ngọn lửa anh hùng!


Về phương Đông, ta về phương Đông

Cùng phương Tây, giương ngọn cờ hồng

Đi ta đi, anh em đồng chí

Chặt xiềng gông, chặt hết xiềng gông!


Chào Trung Quốc trào sôi sức sống

Chào Quảng Châu công xã chính quyền

Đất tươi tốt. Đây mùa gieo giống

Hỡi Thanh niên cách mạng, vùng lên!


Hồn Nước gọi. Tiếng bom Sa Diện

Trái tim Hồng Thái nổ vang trời

Máu thơm tưới mầm non xuân đến

Vui lại rồi, Tổ quốc ta ơi!


Bác về kia! Đảng đã ra đời!

Trải mấy phong trần tuổi bốn mươi

Tay Bác cầm tay đồng chí trẻ

Tiến lên! Thời đại giục chân người.


Ôi sức trẻ! Xưa trai Phù Đổng

Vươn vai, lớn bổng dậy nghìn cân

Cưỡi lưng ngựa sắt bay phun lửa

Nhổ bụi tre làng, đuổi giặc Ân!


Như thế, buổi xuất quân hùng vĩ

Chúng ta đi, quyết chí, tự hào

Đường Kách mệnh sáng ngời chân lý

Đảng cầm cương lịch sử lên cao.


Hãy nghe khúc nhạc đầu hùng tráng

Bản trường ca chiến đấu Việt Nam

Trống Xô-viết rung trời Cách mạng

Cờ búa liềm đỏ đất Hồng Lam!


Khủng bố trắng. Máu dầm mặt đất

Chật Côn Lôn, Lao Bảo, Sơn La

Muôn chiến sĩ, một lòng bất khuất

Chỉ thương người sương tuyết bôn ba.


Nguyễn Ái Quốc. Ôi tên tha thiết

Của đời ta. Người ở phương nào?

Gió ơi gió, ơi chim có biết

Một người tù cất cánh bay cao?


Ta lại dấn chân vào trận mới

Sóng người dâng ngập lối, biểu tình

Rầm rộ cuộc diễu binh vĩ đại

Vì tự do, cơm áo, hòa bình.


Và những ngày qua, những tháng qua

Thư về từng lá, ấm lòng ta

Đường dài nẻo ngắn, lời khuyên dặn

Trǎm nỗi buồn vui, việc nước nhà...


Chiến tranh nổ. Gần xa hùm sói

Cắn cổ nhau. Pháp bại, Nhật vào.

Thân một cổ hai tròng buộc trói

Phải vùng lên, này súng này dao!


Bắc Sơn gọi, Nam Kỳ nổi dậy

Sống một ngày hơn mấy mươi nǎm

Lửa cǎm giận sôi dòng máu chảy

Sức mỗi người bỗng hóa thành trǎm!


Chiều mùa thu ấy... Đến Diên An

Có một Hồng quân, tay nóng ran

Đẩy chiếc xe bò lên với bạn

Rồi đi.... Lần bước xuống phương Nam...


Ôi sáng xuân nay, xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về... Im lặng. Con chim hót

Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...


Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

Nhớ thương, hòn đất ấm hơi Người

Ba mươi nǎm ấy, chân không nghỉ

Mà đến bây giờ mới tới nơi!


Ai đã đến, ai chưa đến đó

Có hòn núi Mác, suối Lê-nin

Hãy về thǎm quê ta Pác Bó

Nơi Bác về, nguồn nước mới sinh.


Hỏi dòng khe ấy, hỏi tre lau

Những tháng ngày xưa.... Bác ở đâu?

Núi vẫn nghiêng đầu nghe vách đá

Hát cùng cây lá gió ngàn sâu...


Hát rằng:


Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ rau mǎng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng

Cuộc đời cách mạng thật là sang!


Hang lạnh nhớ tay Người đốt củi

Bập bùng lửa cháy suốt đêm thâu

Ai hay ngọn lửa trong hang núi

Mà sáng muôn lòng, vạn kiếp sau!


Ngày hội lớn. Trung ương quanh Bác

Lán tre vừa lợp, ấm tình thương

Lịch sử hôm nay, đầu ngọn thác

Gọi toàn dân cứu nước, lên đường.


Việt Minh, hai tiếng dậy chiến khu

Truyền khắp dân gian, đuổi giặc thù

Cây đá mừng reo theo mỗi bước

Sớm hôm xóm núi bóng Già Thu...


Lam Sơn dậy một vùng Núi đỏ

Du kích quân rộn rã thao trường

Cao-Bắc-Lạng khơi dòng thác đổ

Chảy về xuôi, mở lối đại dương.


Lại thương nỗi: đọa đày thân Bác

Mười bốn trǎng tê tái gông cùm

Ôi chân yếu, mắt mờ, tóc bạc

Mà thơ bay... cánh hạc ung dung!


Xta-lin-grát. Đất trời vang động

Én thu sang. Mừng Bác lại về!

Hoan hô Đội Tuyên truyền giải phóng

Buổi ra quân, gươm nóng lời thề!


Già nào

Trẻ nào

Đàn ông nào

Đàn bà nào

Kẻ có súng dùng súng

Kẻ có dao dùng dao.

Thấy Tây, cứ chém phứa

Thấy Nhật, cứ chặt nhào!


Ào ào ào... ào ào ào

Đường tiến công, sông núi xôn xao

Bác đã về xuôi. Chào Đại hội

Tiến quân ca sôi nổi Tân Trào!


Tổng khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước

Sáng quân ra giải phóng Thái Nguyên

Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cả nước

Đứng lên ta giành hết chính quyền!


Việt Nam, ta lại gọi tên mình

Hạnh phúc nào hơn được tái sinh

Mát dạ ông cha nghìn thuở trước

Cho đời, hai tiếng mới quang vinh!


Hôm nay sáng mồng hai tháng chín

Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình

Muôn triệu tim chờ... chim cũng nín

Bỗng vang lên tiếng hát ân tình


Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!


Người đứng trên đài, lặng phút giây

Trông đàn con đó, vẫy hai tay

Cao cao vầng trán... Ngời đôi mắt

Độc lập bây giờ mới thấy đây!


Người đọc Tuyên ngôn... Rồi chợt hỏi:

"Đồng bào nghe tôi nói rõ không?"

Ôi câu hỏi, hơn một lời kêu gọi

Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!


Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!"

Như Trường Sơn say gió biển Đông

Vâng, Bác nói, chúng con nghe rõ

Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông.


Trời bỗng xanh hơn, nắng chói lòa

Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta

Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa!


Ta đứng đây, lẫm liệt đường hoàng

Như Thạch Sanh, khí phách hiên ngang

Lưng đàn, tay búa, tay giương nỏ

Chém Mãng xà vương, giết đại bàng.


Chúng đến đó. Cả bầy hùm sói

Pháp theo Anh, một giống thực dân

Máu đã chảy. Miền Nam đã gọi

Những chuyến tàu hối hả ra quân...


Ghê thay lũ ô binh thổ phỉ

Kéo vào ǎn, miền Bắc xác xơ

Nguy vận nước mong manh đầu chỉ

Sức toàn dân quyết giữ cơ đồ!


Bác Hồ thức. Nǎm canh không ngủ

Nghe phong ba gào thét đá ghềnh

Vững tay lái. Ôi người thủy thủ

Đã từng quen bốn biển lênh đênh!


Người trông gió bỏ buồm, chọn lúc

Nước cờ hay, xoay vạn kiêu binh

Lòng nhẫn nhục quyết không khuất phục

Yêu hòa bình, đâu sợ chiến chinh!


Giặc đã đánh. Thì ta quyết đánh!

Thà hy sinh tất cả, không nao

Lời Bác gọi, nửa đêm vang lệnh:

"Hãy xông lên, chiến sĩ đồng bào!"


Cả nước đáp một lời: Quyết thắng!

Phố phường giǎng chiến lũy, vươn cao

Xóm thôn dựng pháo đài, đứng thẳng

Tre thành chông, người hóa anh hào!


Trải chín nǎm trường, đi kháng chiến

Gót chân trơn càng luyện tinh thần

Con suối nhỏ cũng mang hồn biển

Mỗi đời riêng lớn giữa lòng dân.


Ta có Bác dẫn đường lên trước

Bác cùng ta, mỗi bước gian lao

Vui sao buổi hành quân nắng lửa

Bỗng gặp Người, lưng ngựa đèo cao...


Thương sao, sáng lên đường ra trận

Người đến thǎm ta, vượt lũ nguồn

Nhớ sao giữa chiến trường lửa đạn

Người đứng trông ta đánh diệt đồn!


Chống gậy lên non xem trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu

Thề diệt xâm lǎng lũ sói cầy


Ôi những chiều mưa đầm lá cọ

Bác vào, tươi mỗi lán lều con...

Bữa cơm muối, mǎng non bí đỏ

Tháng ngày vui có Bác mà ngon!


Nơi Bác ở: sàn mây vách gió

Sáng nghe chim rừng gáy bên nhà

Đêm trắng một ngọn đèn khêu nhỏ

Tiếng suối trong như tiếng hát xa


Tiếng hát xa đưa... Muôn tiếng hát

Điện Biên! Trời đất dậy tin mừng

Bác Hồ khẽ vuốt chòm râu mát

Gió sớm đưa hương ngát cả rừng...


Điện Biên! Lừng lẫy Việt Nam ta

Vang tiếng kèn vui gọi mọi nhà

Mời bạn gần xa ra tuyến lửa

Mở đường giải phóng Á-Phi-La!


Chưa vẹn tròn vui, đã sáng tươi

Đường lên hạnh phúc đỏ chân trời

Bốn nghìn nǎm cũ, bao mơ ước

Đã được hôm nay, rạng mặt người!


Chung sức lại, ơi anh ơi chị

Ruộng đồng ta, nhà máy ta đây

Chỉ hai tiếng thân yêu: đồng chí

Đã thương rồi, ấm những bàn tay.


Đơn giản vậy, cơm ǎn áo mặc

Của ta nay, nặng biết bao tình

Cả không khí, trời xanh miền Bắc

Cũng trong như lòng Bác thương mình!


Muôn dặm ta đi, mới bước đầu

Nhớ lời Bác dạy, dễ quên đâu!

Nước non còn nỗi đau chia cắt

Nam Bắc hai miền, ta có nhau


Giặc Mỹ ngông cuồng đã đến đây

Hắn thường đem súng dọa Đông Tây

Lương tâm quen thói vàng mua bán

Có chúng ta đây, diệt chúng mày!


Máu đọng chưa khô, máu lại đầy

Hỡi Miền Nam trǎm đắng nghìn cay

Hǎm lǎm nǎm chẳng rời tay súng

Đi trước về sau, đã dạn dày!


Hỡi Miền Bắc đó, nặng đôi vai

Gánh cả non sông, vượt dặm dài

Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai!


Ôi! đất anh hùng dễ mấy mươi

Chìm trong khói lửa, vẫn xanh tươi

Mưa bom, bão đạn, lòng than thản

Nhạt muối, vơi cơm, miệng vẫn cười.


Thời đại lớn cho ta đôi cánh

Không có gì hơn Độc lập Tự do!

Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận

Có Đảng ta đây, có Bác Hồ.


Ta hiểu. Miền Nam thương nhớ Bác

Nóng lòng mong đợi Bác vào thǎm

Ta hiểu. Đêm nằm nghe gió gác

Bác thường trǎn trở, nhớ Miền Nam!


Ai nói giùm ta hết tấm lòng

Bác Hồ thương nhớ mỗi dòng sông

Mỗi hòn núi ở Miền Nam đó

Như thịt da ta rỏ máu hồng!


Bản đồ bên vách treo, không nói

In mãi bàn tay Bác chỉ đường

Tấm lịch ngày ngày nghe Bác hỏi:

Hôm nay, đâu thắng ở tiền phương?


Ơi anh Giải phóng chân không mỏi

Mỗi bước hành quân, mỗi chiến công

Có thấy ấm lòng nghe Bác gọi

Sáng đường, đôi mắt Bác hằng trông!


Các anh, các chị ở trong ra

Những đứa con yêu trở lại nhà

Có phải mỗi lần ta gặp Bác

Bác vui như trẻ lại cùng ta?


Ôi! nụ cười vui của Bác Hồ

"Miền Nam đánh giỏi, Mỹ thua to!"

Bác ơi! Con biết con chưa giỏi

Quét sạch đường đi, để Bác vô!


Còn những ai chưa được một lần

Trong đời, gặp Bác? Hãy nhanh chân

Tiến lên phía trước! Trên cao ấy

Bác vẫn đưa tay đón lại gần....


Bác vẫn đi kia... giữa cánh đồng

Thǎm từng ruộng lúa, hỏi từng bông

Ghé từng hợp tác, qua thôn xóm

Xem mấy trường tươi, mấy giếng trong...


Bác vẫn về kia... Những sớm trưa

Hỏi lò than, xưởng máy, giàn tơ

Hỏi anh hỏi chị công nhân ấy

Vàng ngọc thi đua được mấy giờ?


Ơi anh bộ đội trên mâm pháo

Mắt lượn trời cao, dõi bóng mây

Có thấy, bốn mùa, quên nắng bão

Bên ta, Bác vẫn thức đêm ngày?


Biết chǎng, hỡi mẹ rất anh hùng

Con mấy lần đi lập chiến công

Hỡi chị hằng trông ngày thắng trận

Bác khuyên thương nhớ vững bền lòng.


Và các em, có hiểu vì sao

Lòng Bác mênh mông vẫn dạt dào

Yêu nụ mầm non, yêu tuổi trẻ ?

Biển thường yêu vậy sóng xôn xao...


Vì sao? Trái đất nặng ân tình

Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh

Như một niềm tin, như dũng khí

Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh.


Đâu chẳng vang lời Bác thiết tha?

Đời vui tiếng Bác ấm muôn nhà

Bác đi... Đâu cũng nghe chân bước

Như gió xuân về, đất nở hoa....


Nếu có hôm nào ta vắng Bác

Chắc là Người bận chuyến đi xa...

Ơi đàn em nhỏ quên ca hát

Hãy lớn ngoan như Bác có nhà!


Anh dắt em vào cõi Bác xưa

Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa

Có hồ nước lặng sôi tǎm cá

Có bưởi cam thơm, mát bóng dừa.


Có rào râm bụt đỏ hoa quê

Như cổng nhà xưa Bác trở về

Có bốn mùa rau tươi tốt lá

Như những ngày cháo bẹ mǎng tre...


Nhà gác đơn sơ, một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn

Giường mây chiếu cói, đơn chǎn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.


Máy chữ thôi reo, nhớ ngón đàn

Thong dong chiếc gậy gác bên bàn

Còn đôi dép cũ, mòn quai gót

Bác vẫn thường đi giữa thế gian...


Bụt mọc dầm chân đứng đợi ai

Quanh hồ thấp thoáng bóng hôm mai

Ngọn đèn kia thức bên ai đó

Mà dạ hương còn phảng phất bay!


Ô vẫn còn đây, của các em

Chồng thư mới mở, Bác đang xem

Chắc Người thương lắm lòng con trẻ

Nên để bâng khuâng gió động rèm...


Con cá rô ơi, chớ có buồn

Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn

Dừa ơi, cứ nở hoa đơm trái

Bác vẫn chǎm tay tưới ướt bồn


Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta

Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa

Chỉ biết quên mình, cho hết thảy

Như dòng sông chảy, nặng phù sa.


Như đỉnh non cao tự giấu hình

Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh

Bác mong con cháu mau khôn lớn

Nối gót ông cha, bước kịp mình.


Ta vào thǎm Bác, gặp Lê-nin

Trán rộng yêu thương, dõi mắt nhìn

Người đến cùng ta, ngồi với Bác

Như hình với bóng, một anh linh.


Bác ơi!


Xin để Người yên giấc mộng say

Còn trời đất đó, nước non đây

Còn ba mươi triệu con Nam Bắc

Quyết thắng, bền gan, tay nắm tay.


Còn triệu anh em đồng chí đó

Bốn mươi nǎm Đảng, óc tim này.

Nhớ lời Di chúc, theo chân Bác

Lên những tầng cao, thẳng cánh bay!


Ngày mai, thống nhất lại non sông

Mẹ được gần con, vợ gần chồng

Ôi đến ngày ta vui sướng nhất

Thỏa lòng Bác lại trở về trông!


Đời sẽ tươi hơn, xây dựng mới

Đàng hoàng to đẹp, sáng trời Đông

Tuổi xanh vững bước lên phơi phới

Đi tới, như lòng Bác ước mong.


Đem ngày gần lại, đổi nǎm xa

Nghĩa lớn tình chung, vẫn ruột rà

Bốn biển anh em hòa hợp lại

Trǎm đường một hướng, nở muôn hoa


Bác ơi! Tết đến. Giao thừa đó

Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần

Ríu rít đàn em vui pháo nổ

Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân...


1-1970