Tên cớm và bản thánh ca

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Xôpi trăn trở trên chiếc ghế trong quảng trường Mađixơn. Khi ban đêm ngỗng trời kêu to, khi những người phụ nữ không có áo da hải cẩu trở nên dịu dàng với chồng, và khi Xôpi trăn trở trên chiếc ghế của y trong quảng trường, thì ta có thể tin rằng mùa đông đang tới.

Một chiếc lá vàng rơi vào lòng Xôpi. Đó là tấm danh thiếp của nàng Sương muối. Nàng Sương muối rất tử tế với những kiều dân trú ngụ thường xuyên trong quảng trường Mađixơn và dịu dàng báo cho họ biết cuộc viếng thăm hàng năm của mình. Tại các ngã tư đường phố, nàng trao tấm thiếp của nàng cho chàng Gió Bấc, người hầu ở toà lâu đài Ngoài Trời, để báo cho những cư dân sống trong toà lâu đài đó chuẩn bị sẵn sàng.

Xôpi nhận thức được rằng đã đến lúc tự mình phải tham gia vào một uỷ ban kì quặc, uỷ ban Kế hoạch và Ngân sách, để chống lại những điều khắc nghiệt sắp xảy ra. Vì thế, y trăn trở trên chiếc ghế của y.
Tham vọng nghỉ ngơi mùa đông của Xôpi không lớn lắm. Y không tính đi du lịch ở Địa Trung Hải và cũng chẳng hề mơ tới những bầu trời miền Nam êm ái ru ta ngủ hoặc dược rập rình trôi trên vịnh Vêduyvian (1). Ba tháng ở đảo Bléc-oen là niềm mơ ước khát khao trong lòng y. Ba tháng ở đảo Bléc-oen sẽ được đảm bảo chắc chắn về nơi ăn, chốn ở, có bạn bè dễ chịu, được yên ổn thoát khỏi chàng Gió Bấc, thoát khỏi những gã áo xanh (2). Ba tháng đó tựa như đối với Xôpi là niềm mong ước tha thiết nhất.

Đã bao năm nay, cái nhà tù trên đảo hiếu khách đó là nơi cư trú mùa đông của y. Mỗi mùa đông, cũng như những đồng bào Niu Yoóc may mắn hơn của Xôpi đi mua vé đến bãi biển Pam hoặc Riviera (3), thì y lại có những xếp đặt; tính toán giản đơn cho cuộc nghỉ ngơi mùa đông hàng năm của y ở đảo Bléc-oen. Và bây giờ, thời gian đó đã lại đến. Đêm trước, lúc nằm ngủ trên chiếc ghế cạnh vòi phun nước trong quảng trường cổ kính, với ba tờ báo chủ nhật chia ra lót dưới người, cuốn quanh mắt cá chân và phủ ngang bụng, y vẫn không chống nổi với khí trời lạnh lẽo. Cho nên, trong óc Xôpi, hòn đảo Bléc-oen hiện lên sừng sững và đúng lúc. Y rất khinh bỉ sự cứu tế được mệnh danh là lòng từ thiện đối với những kẻ được cấp đỡ ở trong thành phố này. Theo Xôpi, ngay Luật pháp cũng còn êm ái hơn Lòng từ thiện. Có vô số hội, ban, viện từ thiện mà y có thể đến xin được một chốn ở xuềnh xoàng, một miếng ăn đạm bạc. Nhưng đối với lòng kiêu hãnh của Xôpi, những của bố thí để lại một dư vị đắng cay. Mỗi ân huệ nhận được ở bàn tay từ thiện, nếu ta không trả được bằng tiền thì phải trả bằng lòng tự trọng. Như Xêda có Brutút, mỗi chiếc giường bố thí, mỗi miếng bánh mì đều phải trả bằng sự xoi mói cá nhân, riêng tư. Vì vậy, tốt hơn hết hãy là người khách của Luật pháp. Dù nằm dưới bàn tay luật lệ, người ta cũng chẳng bậy bạ xen vào việc riêng của một người có tư cách.

Đã quyết định phải tới đảo Bléc-oen, Xôpi tức khắc bắt tay thực hiện niềm khao khát. Có nhiều cách dễ dàng để làm việc này. Cách thú vị nhất là ăn một bữa thịnh soạn tại một khách sạn sang trọng nào đó, và sau khi tỏ rõ là không có tiền trả, tất sẽ được dẫn tới cảnh sát một cách êm ả, không ồn ào. Một viên quan toà thạo việc sẽ nhất định giải quyết nốt phần còn lại.

Xôpi rời chiếc ghế, ra khỏi quảng trường, đi lang thang, vượt qua ngã tư rải nhựa rộng mênh mông nằm giữa đại lộ Brốt-uê và đại lộ Năm (4). Y đi ngược lại đại lộ Brốt-uê, rồi dừng lại trước cửa một hiệu ăn rực rỡ ánh đèn, đó là nơi ban đêm tụ họp những của ngon vật lạ được chọn lọc kĩ càng nhất.

Trên con người Xôpi, y tự tin từ chiếc khuy áo thấp nhất trở lên. Y đã cạo râu, chiếc áo lịch sự, chiếc nơ đen kiểu thắt sẵn gọn gàng là của một bà truyền giáo cho y vào ngày lễ Tạ ơn (5). Nếu Xôpi tới được một cái bàn trong hiệu ăn, thoát khỏi những con mắt quan sát chặt chẽ, thì y chắc chắn sé thành công. Cái phần y phô bày ở phía trên mặt bàn sẽ không làm người hầu bàn nghi ngờ chút nào cả. Một con vịt trời quay, Xôpi nghĩ thầm, đúng là món thích hợp, một chai rượu Cheblít, rồi đến pho-mát Kerenbớt, một tách con cà phê và một điếu xì-gà. Một đôla xì-gà là đủ. Tổng số tiền sẽ không quá cao khiến nhà hàng phải có những biện pháp cực đoan, tuy thế bữa ăn phải làm sao cho no nê và thoải mái để bước vào cuộc hành trình tới chỗ ẩn náu mùa đông.

Nhưng khi Xôpi vừa bước qua cửa, cặp mắt của người đứng đầu nhóm hầu bàn chú ý ngay đến chiếc quần đã sờn và đôi giày cũ kĩ, mòn vẹt của y. Những bàn tay mạnh mẽ và sẵn sàng đã xoay người y lại, đẩy y, lặng lẽ và mau lẹ trở lại vỉa hè; như vậy, đã cứu dược con vịt giời bị đe doạ thoát khỏi cái số phận hẩm hiu.

Xôpi rời khỏi đại lộ Brốt-uê. Con đường dẫn tới hòn đảo Bléc-oen hấp dẫn bằng một bữa ăn tựa như không dành cho một tay sành ăn. Phải tìm cách khác để ngồi tù vậy.

Ở góc đại lộ Sáu, ánh đèn điện và các loại hàng hóa trưng bày khéo léo ở tủ kính một cửa hiệu trông thật là quyến rũ. Xôpi nhặt một hòn đá, đập mạnh vào mặt kính. Người ta chạy xô đến góc phố đó, một tên cảnh sát dẫn đầu. Xôpi đứng yên, hai tay đút túi, mỉm cười nhìn những chiếc khuy đồng lấp lánh. Tên cảnh sát nóng nảy hỏi:

- Đứa đập vỡ kính đâu?

- Ông không nghĩ là tôi cũng có thể dính dáng đến việc này chứ? – Xôpi hỏi lại, mỉa mai, nhưng thân mật như một kẻ chào đón vận may đã tới.

Trong ý nghĩ của tên cảnh sát, hắn từ chối việc tiếp nhận Xôpi, thậm chí chỉ là một đầu mối thôi. Kẻ đập vỡ kính không đứng lại để trò chuyện với người thừa hành pháp luật. Hắn phải trốn ngay chứ. Tên cảnh sát nhìn thấy một người ở giữa đường đang đuổi cho kịp chuyến xe. Hắn rút dùi cui, tham gia vào cuộc chạy đua. Đã hai lần không thành công, Xôpi ngập ngừng bỏ đi, trong lòng chán ngán.

Phía bên kia đường có một hiệu ăn vẻ không kiêu kì, thích hợp với những dạ dày to và những túi tiền nhỏ. Đĩa ăn quá dày, nhưng khăn giải bàn lại quá mỏng. Căn phòng đặc những người, nhưng xúp lại loãng. Đôi giày “tố cáo”, cái quần “phô bày” của Xôpi mang vào nơi này không bị phản đối Y ngồi vào một bàn, tiêu thụ bít-tết, bánh nướng, bánh phồng, bánh chả, rồi y tiết lộ cho người hầu bàn biết là y không hề có một xu dính túi. Xôpi nói:

- Bây giờ thì có việc đấy, đi gọi cảnh sát đi. Đừng để một người lịch sự phải chờ đợi.

- Với anh bạn thì chằng cần cảnh sát đâu, – người hầu bàn nói, giọng ngọt như mía lùi và ánh mắt tươi như rượu anh đào trong cốc cốc-tai (6) Manhatan. - Nào, Côn!

Hai người hầu bàn gọn gàng quăng Xôpi nằm nghiêng về phía bên trái trên cái vỉa hè vô tình. Y đứng dậy, duỗi hết khớp xương này đến khớp xương khác như người thợ mộc mở cái thước gấp, rồi y phủi quần áo. Việc bị bắt tựa hồ chỉ là một giấc mơ hoa. Hòn đảo như quá xa xôi. Một tên cảnh sát đứng trước cửa hiệu thuốc cách đấy hai nhà, cười và bước về phía cuối phố.

Đi qua năm dãy nhà thì Xôpi mới lấy lại được can đảm để ve vãn việc bị bắt. Y dại dột tự cho cơ hội lần này là “dễ ăn”. Một người phụ nữ trẻ, dáng diệu giản dị, có vẻ hài lòng đang đứng trước tủ kính, vui vẻ ngắm cảnh bày những cái cốc đựng xà phòng cạo râu và các bình đựng mực. Cách tủ kính hai thước là một tay cảnh sát to lớn; điệu bộ nghiêm khắc, đang tựa vào cái vòi nước.

Xôpi dự định sẽ đóng vai một “tay chơi” bỉ ổi, khả ố. Vẻ lịch sự, có giáo dục của nạn nhân của hắn, cùng với tay cảnh sát tận tâm đứng gần đã cổ vũ Xôpi tin rằng ngay lập tức móng vuốt êm dịu của chính quyền sẽ tóm lấy tay y và đảm bảo chắc chắn cho y chỗ cư trú mùa đông ở đúng hòn đảo nhỏ bé, hòn đảo nhỏ bé đến chật hẹp ấy.

Xôpi kéo cho thẳng chiếc nơ kiểu thắt sẵn của bà truyền giáo cho y, phanh cổ tay áo ra, kéo chiếc mũ nghiêng nghiêng ngang tàng, khép nép đi về phía người phụ nữ trẻ. Y liếc mắt đưa tình, đột nhiên đằng hắng, e hèm, cười làm duyên, rồi mặt dạn mày dày giở đủ mọi điệu bộ vô liêm sỉ, bỉ ổi của một “tay chơi”. Xôpi thấy tay cảnh sát đang nhìn mình chằm chằm. Người phụ nữ trẻ bước xa mấy bước, rồi lại chăm chú vào những cái cốc đựng xà phòng cạo râu. Xôpi bước theo, bạo dạn tiến sát gần, nâng mũ lên và nói:

- A, Bêđêliơ? Em có muốn đến giải trí trong sân nhà anh không?

Tay cảnh sát vẫn chăm chú quan sát. Người phụ nữ trẻ bị chòng ghẹo đó chỉ cần vẫy một ngón tay là Xôpi được thực sự lên đường (7) tới chỗ ẩn náu trên đảo. Xôpi đã tưởng tượng đến cái cảm giác ấm áp dễ chịu ở trong đồn cảnh sát. Người phụ nữ trẻ nhìn vào mặt Xôpi, đưa tay ra nắm lấy tay áo y.

- Có chứ, anh Maicơ ạ , – cô ta vui vẻ nói. – Em định bảo anh sớm hơn cơ, nhưng tay cảnh sát đang để ý đấy.

Cô ta bám lấy Xôpi như cây leo bám vào cây sồi, hai người đi qua chỗ tên cảnh sát. Số mệnh tựa hồ đã định cho y tự do.

Tới góc phố, Xôpi giãy khỏi cô bạn, chạy đi. Y dừng lại ở một khu mà về ban đêm đường phố sáng rực rỡ nhất và những trái tim, những lời thề nguyền và những tiếng đàn nhạc nhẹ tênh nhất trần đời. Đàn bà mặc áo lông thú, đàn ông mặc áo khoác ấm áp đang đi lại vui vẻ trong làn gió đông. Xôpi chợt sợ hãi cảm thấy như có một thứ thần chú ghê gớm khiến y không thể nào bị bắt. Ý nghĩ dó làm y khỉếp sợ, thấy một tên cảnh sát đang đường bệ đi lại trước một rạp hát sáng trưng, y chợt nghĩ tới “hành vi làm mất trật tự đường phố”. Y đứng trên vỉa hè, bắt đầu la hét rất to bằng cái giọng khàn khàn của y, lưỡi ríu lại như kẻ say rượu. Y nhảy nhót, hò hét, kêu gào, làm đủ mọi trò náo động trời đất.

Tên cảnh sát quay cái dùi cui, quay lưng về phía Xôpi và kể với một người dân:

- Đó là một gã thuộc đội Yây. Hắn reo mừng trận thắng, đã cho đội trường đại học Hátphớt xơi “trứng”. Có ầm ĩ đấy nhưng không hại gì. Chúng tôi đã được chỉ thị cứ để mặc họ.

Thất vọng, Xôpi liền ngừng những hành động gây huyên náo không có kết quả. Cảnh sát không bao giờ tóm y sao? Y thấy rằng hòn đảo tựa như một thiên đường không thể nào đạt tới được. Y cài khuy chiếc áo mỏng để chống lại gió lạnh.

Trong một hiệu bản xì-gà, y thấy một người ăn mặc lịch sự đang châm điếu thuốc, ánh lửa lập loè. Lúc bước vào hiệu, người đó để chiếc ô lụa ở cạnh cửa. Xôpi vào trong cửa hiệu, cầm chiếc ô, rồi chậm rãi bước ra. Người đang châm thuốc vội vã đuổi theo. Người đó nghiêm giọng nói:

- Chiếc ô của tôi.

- Ờ, thế à? – Xôpi cười khinh bỉ, thoá mạ việc ăn cắp vặt rồi cố ý thay đổi để dùng. – Tôi đã ăn cắp cái ô. Cái ô của anh! Tại sao anh không gọi cảnh sát? Có một người đứng ở góc phố đấy.

Chủ nhân cái ô bước chậm lại, Xôpi cũng bước chậm theo và cảm thấy vận may có lẽ một lần nữa lại không đến với y. Tên cảnh sát tò mò nhìn hai người.

- Tất nhiên, - chủ nhân cái ô nói, - đó là... ờ, ngài biết là có những sự nhầm lẫn… Tôi… Nếu đó là chiếc ô của ngài, tôi mong ngài tha lỗi... Tôi nhặt được trong một hiệu ăn vào sáng nay... Nếu ngài nhận ra đó là chiếc ô của ngài, tại sao… Tôi mong ngài sẽ…

- Tất nhiên đó là của tôi, – Xôpi tai ác nói.

Cái người không còn ô nữa rút lui. Tên cảnh sát vội vã đến giúp đỡ một phụ nữ tóc hung, dáng người cao, mặc chiếc áo biểu diễn nhạc kịch đang đứng ở phố bên kia chờ tàu điện cách hai dãy nhà đang tiến đến gần.

Xôpi đi về hướng đông, qua một đường phố bị đào tung lên để sửa chữa. Y ném chiếc ô vào một cái hố, nguyền rủa bọn mang dùi cui, đội mũ sắt. Bởi vì, y muốn rơi vào tay họ, thì họ coi y như một ông vua không thể nào lại làm những điều gì gọi là sai trái được.

Cuối cùng, Xôpi tới một đại lộ yên tĩnh ở phía đông, nơi mà ánh sáng lờ mờ, tiếng động yếu ớt. Y quay mặt về phía quảng trường Mađixơn, vì bản năng hướng về nhà vẫn tồn tại, ngay cả khi “nhà” chỉ là một chiếc ghế ngoài quảng trường.

Y đến một con đường cụt của một khu yên tĩnh lạ thường. Ở đây có một ngôi nhà thờ cổ kính, kì dị, đứng tách rời ra, hai bên có xây hồi. Ánh sáng êm dịu lọt qua một cửa kính màu tím, phía trong đúng là có một người đang chơi đàn ống, đang nhẹ nhàng lướt tay trên phím đàn để chuẩn bị biểu diễn cho thật chắc tay và chủ động bài thánh ca vào ngày lễ chủ nhật sắp tới. Tiếng nhạc êm ái vọng đến tai Xôpi làm y dán chặt người vào những thanh sắt uốn thành hoa ở hàng rào sắt.

Vầng trăng ở trên cao, trong sáng và êm ả; rất ít người và xe cộ qua lại; những con chim sẻ kêu chiêm chiếp buồn ngủ ở dưới mái hiên, trong một khoảnh khắc, nơi này có vẻ như một nghĩa địa miền quê. Bản thánh ca bay ra ngoài giữ chặt y lại bên hàng rào sắt . Y đã biết bản thánh ca này vào những ngày mà cuộc đời y còn bao gồm những thứ như tình mẹ và hoa hồng, tham vọng và bè bạn, những ý nghĩ trong sáng và những chiếc cổ áo sạch sẽ.

Trạng thái tâm hồn y hoà với ngôi nhà thờ cổ kính đã gây ra trong lòng y một sự thay đổi đột ngột và kì lạ. Y thoáng kinh sợ nhìn thấy cái vực thẳm mà y đã sa xuống, nhìn thấy những ngày nhục nhã, những ham muốn tầm thường, những niềm hi vọng đã chết, những năng lực tiêu tan, những động cơ thấp hèn đã tạo nên cuộc đời y.

Và cũng đúng lúc dó, cõi lòng Xôpi rung động đáp ứng với trạng thái tâm hồn mới lạ này, y quyết định phải đấu tranh mạnh mẽ, ngay tức khắc với số mệnh tuyệt vọng của y. Y sẽ vượt ra khỏi cảnh tối tăm, y sẽ trở lại con người cũ của y, y sẽ chiến thắng cái xấu đang chiếm lĩnh con người y. Hãy còn kịp, y vẫn còn tương đối trẻ. Y sẽ làm sống lại tham vọng sôi nổi ngày xưa và quyết tâm không rời bỏ tham vọng ấy nữa.

Những nốt nhạc trang nghiêm và dịu dàng đã dấy lên trong lòng y một cuộc cách mạng. Ngày mai, y nhất định đi vào khu trung tâm thành phố lúc nào cũng ồn ào để tìm việc làm. Một người làm nghề nhập cảng lông thú có lần đã cho y một chân lái xe. Ngày mai, y sẽ tìm ông ta, xin làm việc đó. Y sẽ là một con người làm được một việc gì trên thế gian này. Y sẽ...

Xôpi cảm thấy có một bàn tay nắm lấy cánh tay y. Y quay phắt lại, nhìn thẳng vào khuôn mặt bè bè của một tên cảnh sát.

- Anh làm gì ở đây? – Tên cảnh sát hỏi.

- Không làm gì cả. – Xôpi đáp.

- Thế thì theo tôi! – Kẻ thừa hành pháp luật nói.


- Ba tháng tù ngồi ở đảo. – Viên quan toà trong phiên toà tiểu hình sáng hôm sau tuyên án.

O. Henry





-------------
Chú thích:

(1) Vêduyvian: một vịnh đẹp ở nước Ý.
(2) Chỉ những tên cảnh sát.
(3) Riviera: miền bờ biển ở phía đông nam nước Pháp và tây bắc nước Ý.
(4) Đại lộ Năm: đại lộ sầm uất, sang trọng nhất ở Niu Yoóc. Khu trung tâm của thành phố Niu Yoóc là Manhatan có 12 đại lộ chạy dọc suốt bắc nam và 250 phố chạy từ đông sang tây. Tất cả những đường này đều gọi theo số, không có tên nào khác. Đặc biệt có một đại lộ lớn khác hẳn những đường phố khác, chạy chéo từ đông bắc qua tây nam, gọi là đại lộ Brốt-uê, dài vừa đúng 21 cây số
(5) Ngày lễ Tạ ơn: ngày lễ Tạ ơn Chúa vào ngày thứ năm trong tuần cuối cùng của tháng 11
(6) cốc-tai: loại rượu pha bằng nhiều thứ rượu khác nhau.
(7) Nguyên văn bằng tiếng Pháp: en route.

Thiên tượng (12)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

“Nếu 4c muốn làm cho Chúa cười, hãy kể ông ấy nghe về các kế hoạch tương lai của mình.”
- Woody Allen





- Đây đây… Chú Văn đây rồi, chú Văn, chú bảo mấy đứa này phát… - Đang ngồi ở bên trái chiếc bàn vuông kê ở giữa gian nhà dưới phần mái nhỏ trông ra suối, tay phải để trên bàn, người xoay về hướng cửa sổ, thấy chú Văn mắt nhắm mắt mở từ trong nhà bước ra, anh mừng rỡ.

- Sao… có chuyện gì?

- Linh nó nhất định đòi vào Hang Dơi ngày mai.

Chú Văn cũng ngồi xuống cạnh bàn, phía đối diện với anh, cũng xoay người ra ngoài, anh lật cái chén, rót chén nước nóng nghi ngút, đẩy về phía chú, ngoài kia, thằng bé Dương Trung đang ngồi trên bậu cửa ra vào ở phía bên phải, lưng dựa vào khung cửa phía đấy, chân co chân duỗi, cười nụ, nghếch mặt ngắm suối ở bên ngoài, còn ở khoảng sàn trống chỗ gần mấy cửa sổ khung kính mở toang, cô đang đút hai tay vào túi quần soóc, đi đi lại lại, mặt đầy vẻ bất hợp tác.

- Ngọc Linh à… - Chú Văn trao đổi với anh một cái nhìn đầy ái ngại, nhấp ngụm trà, rồi lựa lời. - Cái việc này, còn chưa biết thế nào, để Đào Phi nó vào một mình, có gì nó dễ xoay xở hơn…

- Thế nhỡ cần hỗ trợ gì thì ai hỗ trợ?.. - Cô quên cả xưng hô.

- Linh à… những chuyện kiểu này Phi nó cũng thuộc loại có kinh nghiệm, tính nó chú biết, nó thích làm việc độc lập, ngại phân tâm…

- Cháu là người kiểm tra cả hệ thống lý thuyết, nếu… nhỡ, hãn hữu mà có sai sót… nhỏ nào, thì cháu cũng có trách nhiệm và có thể cùng suy đoán… để tìm cách giải quyết…

- Nhưng mà còn chuyện… hai đứa, cô nam quả nữ… - Chú Văn chắc bắt đầu bí, nên cố tìm cách chuyển hướng. Thằng Dương Trung ở bậu cửa càng ghếch mặt thêm lên, răng thỏ chìa ra.

- Vẫn đi với nhau suốt giờ, có sao…

- Đi đường khác, còn đây, phải ở cùng một chỗ… chật chội, tối, chỗ đấy tối lắm, có thể phải mấy đêm liền…

- Cũng chả sao, giờ là lúc nào rồi? Mà hai người… cháu có cảm xúc gì đâu?.. Nếu có, thì đi suốt như thế, đã… đã chả…

- Cháu thì đã đành, còn nó…

- Anh ấy cũng đảm bảo hoàn toàn không có một tí xúc cảm nào hết, không một tí nào. - Cô quay phắt lại, cằm hơi nghênh lên, nhìn xéo anh, rồi nhìn qua chú Văn. - Chú cứ hỏi anh ấy xem.

Hình như chú Văn ngoảnh sang nhìn anh, dang tay làm một động tác bất lực thế nào đấy, anh đang ngồi cúi mặt, nhìn hai đầu gối cô đã bắt đầu đầy đặn trở lại, thở dài, rồi chỉ quay lại nhìn chú, dướn mày lên, không nói gì, đằng kia thằng Trung vội chạy ra ngoài hiên, gập người qua lan can, chắc là cười xuống suối.

Vì đã có thời từng là “tụ điểm” du lịch, nên hạ tầng Hang Dơi vẫn còn giữ được nguyên những nét đặc trưng của một chỗ như vậy. Dọc theo bờ một dòng suối rộng, liên tiếp có những cầu thuyền bằng gỗ, đồng bộ được bắc ra. Cùng với thời gian lâu không được thường sử dụng và tu sửa, nên một số đã mục, thậm chí gãy vỡ một phần. Ở một khoảng trống rộng rãi giữa hai cây sồi to đứng trên bờ, có một cầu vẫn còn dùng được và vẫn còn được dùng, chắc là dân địa phương dùng vào mục đích thường nhật, bên cạnh cầu này và bờ suối chỗ đấy la liệt mấy chiếc thuyền chèo tay, loại rộng bầu bầu, khoảng hai người ngồi thì vừa. Ánh nắng chiều đã đầm đậm nhưng vẫn còn chói chang hắt qua những tán lá sồi nhiều và rộng nhưng không thật rậm. Chỗ gần các gốc cây thì có cỏ rậm, thưa dần, ra đến phía ngoài xa thì chỉ còn trơ đất trống. Nếu từ một trong những chiếc thuyền bước lên cầu thuyền rồi đi quá vào bờ đến hết chu vi tán lá của hai cây sồi, rồi quẹo sang trái, thì sẽ thấy ở khoảng trống tạo thành giữa cây sồi này và một hàng những cây gì đó cùng loại, thân thẳng, cao, chạy đều đặn ven theo bờ suối có một chiếc lều du lịch to, loại lều sặc sỡ và tiện nghi.

Lều này hình một quả trứng gà cắt đôi chính giữa theo chiều ngang, giữ lại đầu nhỏ, úp xuống, rồi lại bổ dọc, vứt một nửa đi. Tất nhiên, lều to hơn trứng nhiều, đủ chỗ để mở hai phòng ngủ độc lập hai bên, theo chiều đi vào từ chỗ hở “bổ dọc”, vải lều sặc sỡ, loang lổ hai màu xanh da trời sẫm và vàng lê-ki-ma, ở “bức tường” phẳng chỗ “bổ dọc” trổ một khung cửa cao ở chính giữa, cao gần hết chiều cao, có tới hai mét, chỉ trổ hai đường đối xứng hai bên từ dưới đất lên, và những chỗ mép đấy đều có phéc-mơ-tuya, tối ngủ thì kéo kín lại, còn ngày thì vén ngược lên, mắc đầu hai mép đấy vào hai cây gậy đồng bộ trồng sẵn ở phía trước lều, là sẽ có ngay một mái hiên trước cửa.

“Nhà ở” cho bốn người ở, nhưng chỉ cần có hai phòng ngủ. Cách một quãng về phía trước nhà có một con đường đất chạy ngang qua. Rẽ trái rồi cứ theo đường này đi tiếp khoảng hơn hai trăm mét, là sẽ tới một khoảng trống rộng có cỏ và đá lởm chởm, vừa đến đấy, nhìn chếch qua phải là sẽ nhìn thấy ngay Hang Dơi: cao, rộng, sừng sững, đen tối, huyền bí. Ban đêm, hai trong bốn người sẽ vào ngủ đêm ở trong một chiếc lều đặc chủng khác, đã được dựng ở tít bên trong hang dơi. “Rồng” ở trong Hang Dơi hay thở về đêm.

- Sao không công bố những dự đoán Hơi Thở Rồng để mọi người theo đó mà vào Hang Dơi hả chú? - Cả nhóm đang tụ tập ăn chiều trên bãi cỏ thưa ở chếch phía bên trái căn lều. Bánh mì trắng, thịt cừu nướng, vừa nướng than tại chỗ, thơm phức, dưa chuột muối đựng trong bình to, xốt cà chua, hành tây sống và nướng xém, rượu vốt-ka. Cô vừa nghiêng bình dưa chuột muối chắt nước ra một cái cốc thủy tinh rồi làm một ngụm, nhìn tay nhem nhuốc, quệt mép, rồi quay sang hỏi chú Văn.

- Thì mong muốn là thế, nhưng từ lúc bắt đầu tính cái đấy, khoảng hơn một năm rồi, kết quả đối soát vẫn sai số đến hơn ba mươi phần trăm. Chưa thể dùng được. Chú vẫn chưa nghĩ ra cách làm được cho nó tốt hơn. - Chú phảy tay vẻ bực bội. - Cái này nếu Đào Phi chịu ở yên chỗ ở đây, có một số thứ là sở trường của nó, cùng tập trung sức lại thì giải quyết sẽ nhanh hơn, mà nó… - Chú lại phảy tay, rồi thuận chiều phảy, cầm xiên ngô nướng (Dương Trung đã cắt mỗi bắp ngô làm ba, bốn khúc, rồi xiên vào xiên nướng như xiên thịt, bảo là thịt nướng chay), đưa lên “cắn” (đúng ra là gặm) một miếng to. Dương Trung, ngồi bên cạnh, một cách vô thức, cũng làm động tác y hệt, lặp lại theo “sư phụ”, với xiên thịt cừu chảy mỡ béo ngậy.

- Trong đấy cây rậm hơn, rêu vẫn phủ đầy thân cành, dài như lông voi ma mút, sao chú không vào thăm lại chiến khu xưa? - Anh phủi phủi đầu gối lem luốc, ống quần lấm nhiều vệt đen, xanh dưa, cầm cốc nhấp một ngụm vốt-ka, nói lảng sang chuyện khác.

- Dựng lều có sâu không? - Chú Văn hỏi.

- Sâu lắm. Phải sâu chứ. Thử nghiệm cơ mà. Linh ban nãy bị đập đầu vào cây mới oạch mấy phát nên thân, có còn muốn vào nữa không em?

Cô ngồi lờ lơ, cắn mẩu dưa chuột muối rồi cầm tút quả dưa chuột đã cắn gần hết ném tụt vào bụi cây, kiểu không thèm nghe, không thèm trả lời. Hôm nay cô vẫn mặc bộ đồ kiểu đồ lính, nhưng dài cả ống tay, ống chân. Đầu gối cô dạo này đã đầy đặn hơn, nhưng gò má thì vẫn xương xương.

Buổi tối, cô nằm quay lưng lại, anh chiếu đèn pin, cẩn thận kiểm tra hết bốn mặt tường-mái-sàn, căn lều “thiết kế” của họ có hình dáng một khối tứ diện đều, mặt tam giác đều ở đáy đủ chỗ cho hai người nằm, nhưng để không chạm đầu chạm chân vào “tường” thì phải nằm gần như sát nhau, hoặc là phải lùn hơn, rồi bảo: “Ổn rồi, sẵn sàng chờ Rồng thở chưa, anh tắt đèn đây?”

Bóng tối tuyệt đối.

Một lúc, có những tiếng lộp độp nghe rất rõ.

- Có phải nó không? - Hơi thở hơi gấp gáp của cô chạm vào anh, cô đã nằm quay mặt lại.

- Chắc không, mưa đấy.

- Mưa? Làm sao mưa được?

- Không biết. Mưa cũng được thổi từ trong kia ra, thường là như mưa phùn, như bây giờ chắc là “mưa rào”, có thấy ấm hơn ngoài kia chưa?

- … - Hình như cô gật đầu. Cô không nhớ là anh chả nhìn thấy gì cả.

- Chú Văn bảo mưa thế này thì Rồng ít khi thở. Em ngủ đi. Không cần thức đâu. Lều mình tốt, chả sợ. Nếu nó thở mà lúc đấy anh biết, anh sẽ gọi. - Thấy cô chạm vào vai mình, anh rờ rờ, nắm lấy bàn tay cô. - Anh sẽ gọi.

Không còn thấy hơi thở, cô đã lại nằm quay lưng lại. Một lúc lâu, thấy cô thở đều đều, anh tưởng cô đã ngủ, thì nghe thấy tiếng cô:

- Đào Phi.

- Ơi.

- Anh… có phải gay không? - Theo như khẩu ngữ và âm sắc, thì hình như cô hỏi nghiêm túc.

- Có rất nhiều bậc hoành tráng, thuộc loại nhất, của nhân loại, Plato này, Michelangelo, rồi cả Leonardo da Vinci bắc đẩu thái sơn… là gay. Anh mà được thế… - anh cười - tiếc là, theo những số liệu… gần đây nhất, thì anh kh… anh vẫn chưa phải.

- Cái gì? Leonardo da Vinci là gay?

- Ừ.

- Anh bốc phét.

- Nếu có bốc phét, thì là Freud bốc phét, không phải anh.

- …

- …

- Anh, sao ngay cả câu hỏi như thế, anh hình như cũng có sẵn câu trả lời?

- Ý em là tình huống phải đối phó, nên đã quen đối phó?

- Không… phải công nhận là anh chịu khó tìm hiểu cặn kẽ nhiều thứ.

- …

- Anh, như em nhá, không hiểu sao, chưa bao giờ em thấy có cảm giác thật thoải mái, thật yên tâm trong lòng cả. Ngay cả những lúc mà… ở trong điều kiện tốt nhất, làm những việc mà mình thích làm nhất. Em xem sách thì hay thấy nói thiền, tĩnh tâm, sống với hiện tại, rồi chi túc… chi túc…

- “Chi túc tiện túc. Đãi túc hà túc”, biết đủ là đủ, chờ đủ biết bao giờ đủ.

- Ừ, em thấy có nhiều sách, hay nói lại nhau về những cái kiểu kiểu như thế, em cũng đã thử theo mấy kiểu chiều hướng đấy, mà vẫn thấy sao ấy. Mấy cái đấy, cứ loanh quanh một hồi, hình như rốt cuộc lại tự mâu thuẫn.

- …

- Anh đã bao giờ lăn tăn mấy cái này chưa?

- Đã, thậm chí rất.

- Xong rồi sao?

- Adam lão tổ lúc còn ở vườn Eden thì chả phải nghĩ ngợi gì. Tâm rất chi là tĩnh. Xong rồi bắt đầu nghĩ ngợi phát, thì ao. Bị thành như chúng mình.

- Thế thì sao?

- Câu trả lời đấy.

- Em chưa hiểu, như thế nếu tĩnh được tâm thì… hay là… mà làm sao dùng cái đấy làm sở cứ được… đấy chỉ là truyền thuyết.

- Thế này vậy nhá, nàng Ngọc Linh ở thôn Trữ La mang quần soóc đi giặt. Bưng chậu đến, ngồi nhìn xuống thấy mặt nước trong quá, bèn muốn soi gương cho thật rõ xem đích xác thì mình xinh hay là xấu. Bỗng Ngọc Linh tự hỏi: “Soi nhõn cái mặt, thì có vị gì, sao không soi…” Nghĩ là làm, Ngọc Linh bèn cởi áo ra. Mặt nước phẳng lặng như gương, Ngọc Linh rất chầm chậm, rất hồi hộp ghé xuống để soi. Hình bóng trong nước đang hiện ra, cứ rõ dần, rõ dần, tim Ngọc Linh đang đập mạnh, hồi hộp lắm, bỗng nghe “tõm”. Hình trong nước tan vỡ, Ngọc Linh giật thót mình, chưa kịp hiểu gì, thì đã thấy ngực trái lạnh buốt…

- Anh… nói tập trung vào chủ đề đi chứ… - cô vừa cười rung rung, vừa làm bộ gắt, quài tay tét anh.

- Đang nói đấy. Mặt nước nhá, lúc đầu, lúc phẳng lặng, giả thiết là phẳng lặng tuyệt đối đi, là tĩnh. Nếu không bị “tõm”, thì sẽ chỉ có đơn giản là mặt nước. Nhưng bị “tõm”, nên mặt nước không còn tĩnh nữa, vì mặt nước không tĩnh, cho nên có sóng. Tĩnh thì không có sóng. Động thì sinh ra sóng. Đã là sóng thì không thể tĩnh. Muốn tĩnh thì phải chờ hết sóng, nhưng lúc đấy thì không còn sóng nữa cho nên bản thân sóng thì không thể biết như thế nào là tĩnh.

- Nhưng… đấy là sóng.

- Sóng chỉ là ví dụ, về bản chất thì cái gì chả thế. Anh với em, người cũng thế. Adam lão tổ vì động tâm nên bị thành như chúng mình…

- Đấy là truyền thuyết…

- Không quan trọng, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng… đều vì động mà sinh. Có thể không phải là “tâm” của Adam, là một vật chất gì khác, nhưng bị “động”, mà sinh.

- …

- Cho nên, đã là người thì tâm không thể tĩnh.

- …

- “Chi túc tiện túc. Đãi túc hà túc”, nhiều thứ, có phải “biết đủ” là tốt đâu, ngược lại, cứ phải luôn cảm thấy thiếu, thì mới tốt. Kiến thức này, hay là tình y… tình bạn bè này. - “Đúng chủ đề”, anh kịp nhận ra mình lại bắt đầu say sưa, nhưng hình như vẫn hơi muộn mất một chút. Cô đã nằm quay phắt lại, rờ rờ tìm được vai anh, đẩy anh nằm ngửa ra, rồi nhoài người, gối đầu, ghé lên vai anh. Anh đã lo cô sẽ bắt bẻ, hỏi xoáy vào chỗ anh vừa kịp sửa từ.

- Em lại không bắt bẻ được anh. Mà có lẽ, em cũng cảm thấy anh có lý. - Nhưng hình như cô đang rất nghĩ ngợi về chủ đề chính. Cô mân mê cúc áo anh. Một lát, cô bảo. - Nhưng nếu đúng theo thế, chả nhẽ… mình cứ… “listen to your heart”, ke-me-no? Mà thế… đầu cô lắc lắc, không thể được, vô lý.

- …

- Yêu đương thất tình uống thuốc nhảy lầu… toàn là “listen to your heart”, ke-me-no đấy. Không, vô lý lắm.

- Đấy chắc là “nghe” sai. Anh nghĩ đa phần sẽ nghe sai, chỉ có một số ít, có khi rất ít, nghe đúng, mà thực ra… chắc cũng chỉ là gần đúng. Gần đúng cũng là rất tốt rồi.

- Vậy là phải… cố nghe đúng, nhưng mà làm sao… cố thế nào?..

- Tiếc là không ai dạy, mà chắc cái này chả ai dạy được, “tõm” cũng có thể tạo thành sóng, gió cũng có thể tạo thành sóng, rồi lá cây rụng, cá đớp, mà đớp cũng không cái nào giống cái nào, rụng cũng thế, gió cũng thế, “tõm” cũng thế… mỗi người, nếu “nghe” đúng, chắc sẽ phải “nghe” thấy một cái gì đó rất riêng. Anh nghĩ cái này phải tự mày mò thôi.

- Anh thì mày mò thế nào?

- Trên mặt nước thì luôn có nhiều sóng khác nhau. Có nhiều cái sóng, đang lan đi thì bị những sóng khác lẫn vào, rồi tất cả lộn xộn lên. Anh thích những cái sóng mà mặc dù là vẫn bị lẫn, cái này không thể tránh được, chắc chả có mặt nước nào mà lại chỉ có một cái sóng duy nhất cả, nhưng vẫn giữ được là một cái sóng đấy, trực quan vẫn có thể nhận ra được nó, từ đầu đến cuối, từ lúc bắt đầu có nó cho đến lúc nó lặng hẳn. Đấy đích thực là một cái sóng đẹp.


(còn nữa)

Quà tặng của những người thông thái

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó.

Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu, và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh.

Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi. ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở.

Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố New York.

Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm 'Jim', James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về. Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ.

Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món quà. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh.

Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô sáng lên.

Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della.

Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát.

Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu "Madame Eloise". Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ "Eloise" nào cả. Della cất tiếng hỏi: "Bà mua tóc tôi không?"

"Tôi chuyên mua tóc mà", bà ta đáp và bảo: "Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi".

Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống.

"Hai mươi đồng" bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả.

"Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi" Della nói.

Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó.

Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại.

Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: "Mình có thể làm gì với nó đây?". Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. "Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!". Cô tự nhủ: "Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?".

Bảy giờ tối, bữa ăn được chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim.

Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: "Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói 'Giáng sinh vui vẻ', em có một món quà rất hay cho anh này!".

"Em đã cắt mất tóc rồi à?" Jim hỏi.

"Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? Em vẫn là em mà!", Della nói.

Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: "Em nói là em đã bán tóc à?"

"Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?"

Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: "Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy."

Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa!

Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc. "Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim", nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy.

Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này".

Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: "Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu."

O. Henry
Thanh Bình dịch

Chiếc lá cuối cùng

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Tại một quận nhỏ nằm về hướng tây công trường Washington, đường sá chạy rối loạn, quanh co, tròng tréo nhau tạo thành nhiều khu nhỏ, thường được gọi là những "cái ổ". Những "cái ổ" này cong lượn, hình thù thật kỳ dị. Một con đường cứ tự cắt mình ra một hoặc hai lần. Có chàng nghệ sĩ phát ngôn rằng đường sá như vậy cũng có cái... lợi của nó. Giả sử như có một tên đòi nợ đến thu tiền cọ tiền sơn các thân chủ họa sĩ ở đây, lòng vòng qua những con đường như vậy cuối cùng chỉ để tìm thấy chính... mình, với hai bàn tay không.

Vì vậy mà các nghệ sĩ tìm đến, lang thang trong cái làng cổ Greenwich để tìm thuê những căn nhà có những chiếc cổng xây theo kiểu kiểu Hà Lan từ thế kỷ thứ mười tám, cửa sổ quay về hướng bắc với giá thuê thật hạ Rồi họ mang vào những chiếc thùng bằng thiết, vài cái dĩa mòn lỉn kiếm được ở Đại Lộ Thứ Sáu và cứ như vậy cái làng cổ mặc nhiên trở thành một "thuộc địa" của đám nghệ sĩ.

Sue và Johnsy có một xưỡng vẽ ở lầu trên cùng của một căn nhà gạch ba từng thấp lè tè. Johnsy là tên gọi ở nhà của Joanna. Một người từ Main, một người từ California, họ gặp nhau tại quán cơm bình dân trên đường Số Tám, cùng yêu thích hội họa, cùng mê món rau díp trộn, tương đắc đến nỗi cột tay áo mướn chung với nhau một xưởng vẽ.

Đó là hồi tháng Năm. Vào tháng mười một thì trời phái một ông khách lạnh lùng mà các ngài bác sĩ thường gọi là Bệnh Viêm Phổi đến khủng bố khu "thuộc địa", thò cái bàn tay lạnh ngắt, sờ chỗ này một chút, vỗ chỗ kia một phát. Khu vực phía đông bị ảnh hưởng nặng nề với khá nhiều người bệnh, nhưng bước chân của ông khách chậm dần khi bước vào cái mê cung chật hẹp rêu phong của khu "thuộc địa"

Ông khách Viêm Phổi không phải là hạng người mà bạn thường gọi là ông bạn già hào hiệp. Cô Johnsy gốc Cali nhỏ bé, liễu yếu đó thật ra không phải là đối thủ xứng tay của lão già tay đỏ điếm đàng, nhưng lão vẫn đập cô ta tận tình. Vì vậy mà cô gái nằm xụi lơ, bất động trên chiếc giường sắt, mắt nhìn vào bức tường gạch của căn nhà kế cận xuyên qua khung cửa sổ nhỏ.

Một bữa sáng nọ, ông bác sĩ mời Sue ra ngoài hành lang, nhướng đôi mày rậm:

"Cô ta chỉ có chừng một phần..., để coi, phần mười cơ hội sống sót" Vừa nói ông vừa rảy rảy cái nhiệt độ kế. "Đó là vì cô ta không có chí cầu sinh. Cái cảnh bệnh nhân sắp hàng chờ chết chớ không chịu uống thuốc chắc phải làm cho các thầy chế thuốc xấu hổ. Cô bạn nhỏ của cô đã hạ quyết tâm không chịu bình phục rồi. Cô ta có mơ ước gì trong đầu không?"

Sue đáp:

"Cô ấy... muốn một ngày nào đó sẽ vẽ Vịnh Naples."

"Vẽ? Chậc! Cô ta có một cái gì đáng giá hơn trong đầu để nghĩ tới không, một người đàn ông chẳng hạn?"

"Đàn ông?" Sue lập lại với một giọng mũi khịt khịt. "Đàn ông mà đáng giá thật..., à... không, thưa bác sĩ, không có những chuyện như vậy."

"Chà, như vậy thì tệ thật!" Bác sĩ nói. "Tôi sẽ rán hết sức làm những gì mà khoa học có thể làm được. Nhưng hễ khi nào bệnh nhân của tôi bắt đầu nghĩ tới chiếc xe chở quan tài và đám đô tùy thì tôi trừ đi một nửa cái hiệu quả của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy thắc mắc một chút gì về mùa đông năm tới thì tôi có thể hứa với cô là cái cơ hội sống sót là một trên năm, còn không thì một trên mười."

Sau khi ông bác sĩ bỏ đi, Sue trở vào phòng làm việc và khóc đến nhão chiếc khăn giấy Nhật Bản. Sau đó cô vác cái giá vẽ vào phòng Johnsy, miệng ba hoa những câu bông đùa chọc vui.

Johnsy nằm im lìm bất động dưới tấm chăn phủ giường, mặt hướng về phía cửa sổ. Ngỡ là bạn đang ngủ, Sue ngưng những lời đùa giỡn.

Cô ta sắp xếp giá vẽ và bắt đầu minh họa cho một truyện đăng báo. Những họa sĩ trẻ dọn đường đến với nghệ thuật bằng cách minh họa cho các truyện trên báo, cũng như các nhà văn trẻ dọn đường đến với văn chương bằng ngòi bút.

Lúc Sue đang mặc áo quần, mang mắt kiếng cho một nhân vật anh hùng, một chàng kỵ sĩ miền Idaho, thì cô nghe một thứ âm thanh rầm rì, lập đi lập lại nhiều lần. Cô ta chạy vội lại bên giường người bệnh.

Johnsy đang mở tròn mắt, nhìn ra ngoài cửa sổ và đếm. Đếm ngược.

"Mười hai." một lát sau "Mười một", "Mười", rồi "Chín"; rồi "Tám" và "Bảy" gần như liền nhau.

Sue nhìn ra ngoài cửa sổ với vẻ bồn chồn lo lắng. Có gì ở ngoài đó để đếm đâu? Chỉ có một khoảng sân trống trơn buồn thảm và cái tường gạch của căn nhà cách đó hai mươi thước. Một giây nho già, thật già, gân guốc và cằn cỗi bò lên gần nửa bức tường. Những cơn gió lạnh mùa thu vừa qua làm lá rụng gần hết chỉ còn trơ lại mấy nhánh bám lủng lẳng vào bức tường gạch đổ nát.

Sue hỏi:

"Đếm gì vậy, nhỏ?"

"Sáu." Johnsy nói, gần như thì thầm. "Nó bắt đầu rụng nhanh rồi. Ba ngày trước còn cả trăm, làm mình đếm đến nhức đầu. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Lại một chiếc nữa rụng kìa. Chỉ còn có năm chiếc."

"Năm chiếc gì hở nhỏ? Nói cho Sudie biết với."

"Lá! Lá trên giây nho. Khi chiếc lá nho cuối cùng rơi xuống thì mình cũng sẽ đi luôn. Mình nghiệm ra điều đó ba hôm rồi. Bác sĩ không nói cho bạn biết như vậy sao?"

"Ồ, mình chưa bao giờ nghe được những chuyện vô lý như vậy." Sue gắt bạn, giọng pha một chút giễu cợt. "Cái giây nho già đó thì có liên quan gì đến sức khỏe của bạn? Bạn thường vẫn thích cái giây nho đó lắm mà, cái cô hư này. Đừng có suy nghĩ dại dột như vậy. Ồ, hồi sáng này bác sĩ nói là bạn có nhiều cơ hội bình phục lắm, để nhớ chính xác coi ổng nói sao, ổng nói, mười ăn một. Như vậy thì chắc ăn như bắp rồi, chắc ăn như mình chạy xe trên đường phố hay đi bộ qua các cao ốc ở New York vậy. Thôi, rán ăn chút súp nhá, rồi để cho con nhỏ Sudie này tiếp tục vẽ tranh bán kiếm chút tiền còm mua rượu cho con đang bệnh, mua thịt heo xay về ăn cho đỡ đói nhá."

"Bạn không cần phải mua thêm rượu nho." Johnsy nói mà mắt vẫn dán chặt ra ngoài cửa sổ. "Một chiếc nữa rụng. Không, mình không muốn ăn súp đâu. Vậy là chỉ còn lại bốn chiếc. Mình muốn nhìn thấy chiếc lá cuối cùng rơi trước khi trời tối. Rồi mình sẽ đi theo..."

Sue cúi xuống bên mình Johnsy:

"Johnsy, nhắm mắt lại và hứa là sẽ không nhìn ra ngoài cửa sổ nữa cho đến khi nào mình vẽ xong. Mình phải nộp mấy bản vẽ này vào ngày mai. Mình cần chút ánh sáng, nếu không thì bức tranh sẽ tối hù."

Johnsy hỏi, vẻ lạnh lùng:

"Bạn không vẽ ở phòng khác được à?"

"Mình cần phải ở đây với bạn." Sue đáp. "Ngoài ra, mình không muốn bạn cứ nhìn vào mấy cái lá nho chết tiệt đó."

"Vẽ xong thì nhớ cho biết liền." Johnsy nói và nhắm mắt lại, nằm bất động như một bức tượng bị đổ. "Tại mình muốn nhìn thấy chiếc lá cuối cùng rơi xuống. Mình chờ mệt quá rồi. Mình suy nghĩ mệt quá rồi. Mình muốn buông xuôi tất cả, để cho nó cứ tự do rơi xuống, rơi xuống như những chiếc lá tội nghiệp kia."

"Rán ngủ đi." Sue nói. "Mình phải kêu ông Behrman lên ngồi làm mẫu một người thợ mỏ nghèo. Mình sẽ đi chừng một phút. Đừng cử động gì cả cho đến khi mình trở lại, nhé."

Lão Behrman là một họa sĩ ở ngay dưới tầng trệt. Lão đã quá sáu mươi tuổi, có một bộ râu chảy dài từ một cái đầu to tướng xuống một thân hình nhỏ thó giống như bộ râu dài của thánh Moses trong tranh của Michael Angelo. Behrman là một nghệ sĩ thất bại. Lão cầm cọ đã bốn mươi năm rồi mà chẳng vẽ được một bức tranh nào cho ra hồn. Lúc nào lão cũng làm như sắp sửa thực hiện một tác phẩm lớn, nhưng thực sự chưa bao giờ bắt tay vào việc. Suốt mấy năm liền lão chẳng vẽ vời gì ngoài một vài bức tranh quảng cáo lem nhem. Lão kiếm sống bằng nghề làm người mẫu cho các họa sĩ trẻ trong khu thuộc địa vì các họa sĩ trẻ này không đủ tiền mướn các người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống rượu như hũ chìm, và nói hoài về cái tác phẩm lớn sắp hoàn thành của mình. Đối với nhiều người thì lão là một lão già nhỏ con mà gân lắm, thường mạt sát thậm tệ cái tánh ủy mị yếu đuối của người khác và tự coi mình như một người dẫn dắt, bảo vệ hai cô họa sĩ trẻ trong cái xưỡng vẽ trên lầu.

Sue tìm thấy lão Behrman trong căn phòng nhỏ tối hù của lão ở lầu dưới, người nồng nặc mùi rượu dâu. Trong một góc phòng, tấm vải trên khung vẽ vẫn còn trống trơn nằm chờ hơn hai mươi năm rồi đường cọ đầu tiên của cái tác phẩm lớn của lão. Cô kể cho lão nghe về sự tưởng tượng lạ lùng của Johnsy, về nỗi lo là cô ta vốn đã mong manh, yếu đuối, khi nghị lực của cô cạn đi rồi thì cô sẽ trôi tuột đi như chiếc lá lìa cành.

Lão Behrman, cặp mắt đỏ ngầu chiếu thẳng ra trước, la lên với vẻ chế nhạo, khinh bỉ cái óc tưởng tượng ngu ngốc đó.

"Dà." Lão khóc. "Thế dan có người ngu nào nghĩ như con nhỏ đó là mình sẽ chít theo những chiếc lá nho khi nó lìa cành không? Lão chưa từng nghe chiện đó bao giờ. Không, Lão không làm cái người mẫu khổ hạnh ngu ngốc đó cho cô đâu, hiểu chưa. Sao cô lại để cho những chiện ngu xuẩn như dậy chạy dô đầu con nhỏ đó như dậy hả? Ờ, cái con nhỏ Johnsy tội nghiệp."

"Cô ta bệnh nặng và yếu lắm." Sue đáp. "Cơn sốt làm cho tâm trí cô ta trở nên hổn loạn, tưởng tượng ra những việc hoang đường. Được rồi. Ông Mehrman, nếu ông không muốn làm người mẫu cho tôi thì cũng không sao. Tôi biết ông chỉ là một lão già khó tánh, ba hoa, ngồi lê đôi mách."

"Cô đúng là cái giống đờn bà!" Lão Behrman la lên. "Ai nói là lão không chịu ngồi mẫu? Đi đi. Lão sẽ lên gặp cô. Suốt nửa tiếng đồng hồ vừa rồi lão đã giải thích là lão sẳn sàng ngồi mẫu mà. Dà, đây đâu phải là chỗ cho những người tốt như cô Johnsy nằm bịnh chớ. Một ngày nào đó lão sẽ dẽ xong tác phẩm lớn, rồi chúng ta sẽ rời bỏ chỗ này. Dà, đúng dậy."

Lúc hai người lên đến nơi thì Johnsy đang ngủ. Sue kéo tấm màn cửa sổ cho kín lại và ra dấu cho lão Behrman sang phòng kế. Cả hai cùng lo lắng nhìn mấy cọng giây nho bên ngoài cửa sổ. Rồi cả hai cùng nhìn nhau một lúc lâu không nói lời nào. Trời mưa dai dẳng và có chút tuyết rơi. Lão Behrman trong chiếc áo xanh cũ kỷ, bắt đầu ngồi lên trên cái ấm nước đặt lộn ngược giả làm tảng đá để làm mẫu một người thợ mỏ nghèo khó.

Sáng hôm sau, khi Sue thức dậy sau chừng một giờ ngủ mê, cô bắt gặp Johnsy với cặp mắt mở lớn, đờ đẫn đang nhìn chăm chăm vào một cái bóng màu xanh.

"Kéo cửa sổ lên. Mình muốn nhìn một chút." Cô thì thầm ra lệnh.

Sue làm theo một cách uể oải.

Nhưng, ô kìa, sau một cơn mưa dữ dội và những cơn gió vật vả suốt đêm dài, một chiếc lá nho vẫn còn hiện rõ mồn một trên bức tường gạch. Đó là chiếc lá nho cuối cùng còn sót lại. Cuống lá vẫn còn cái màu xanh đậm nhưng ven rìa lá răng cưa đã nhuốm màu vàng úa, treo lơ lững như thách đố trên một giây nho cách mặt đất chừng hai chục thước.

Đó là chiếc lá cuối cùng." Johnsy nói. "Mình cứ tưởng nó chắc phải rụng hồi đêm rồi. Mình nghe gió dữ lắm. Chắc nó sẽ rụng trong ngày hôm nay và mình cũng sẽ rụng theo."

"Nhỏ, nhỏ ơi." Sue vừa nói vừa dúi khuôn mặt mệt mõi của mình vào chiếc gối. "Nếu bạn không muốn nghĩ đến bản thân mình thì xin hãy nghĩ tới Sue đây. Sue phải làm sao đây?"

Nhưng Johnsy không trả lời. Cái sinh vật cô đơn khủng khiếp nhất trên thế gian này phải là cái linh hồn khi đã sẳn sàng đi vào một cuộc hành trình miên viễn, đầy huyền bí. Sự tưởng tượng hoang đường đó dường như càng ám ảnh cô gái mạnh mẽ hơn khi mối liên hệ với bạn bè và với trái đất này của cô cứ lỏng lẽo dần.

Ngày tàn dần, và dù trời nhá nhem tranh tối tranh sáng, họ vẫn có thể nhìn thấy chiếc lá nho duy nhất còn bám vào cuống giây nổi bật trên bức tường. Rồi đêm đến và những cơn gió bắc lụn dần, trong khi cơn mưa vẫn còn đập vào khung cửa sổ, và rơi lộp bộp dưới mái hiên.

Khi trời vừa hừng sáng, Johnsy thẩn thờ đòi kéo tấm màn che lên.

Chiếc lá vẫn còn đó.

Johnsy nằm yên lặng nhìn một lúc khá lâu. Rồi cô cất tiếng gọi Sue đang khuấy nồi súp gà trên cái lò gas.

"Mình thật là hư quá, Sudie ạ." Johnsy nói. "Một cái gì đó đã làm cho chiếc lá cuối cùng kia không chịu rụng làm mình cảm thấy xấu hổ quá, mình thật là tệ quá. Muốn chết đi thì quả là một điều ngu xuẩn. Bạn mang cho mình một chút súp đi, một ít sữa có pha chút rượu nho nữa; nhưng khoan, mang cho mình một cái gương nhỏ trước đã, rồi kê giùm mình mấy chiếc gối để mình có thể ngồi dậy nhìn bạn làm bếp."

Một giờ sau cô ta bảo:

"Sudie này, mình hy vọng có ngày sẽ vẽ Vịnh Naples."

Chiều hôm đó bác sĩ đến thăm. Sue cáo lỗi với bạn để đi ra hành lang gặp bác sĩ khi ông ta ra về.

"Có triển vọng tốt." Bác sĩ vừa nói vừa cầm lấy bàn tay gầy guộc và run rẩy của Sue. "Rán chăm sóc thì cô ấy sẽ khỏi. Bây giờ tôi phải đi thăm một bệnh nhân khác dưới lầu, tên là Behrman, nghe nói là một nghệ sĩ gì đó. Cũng bị viêm phổi. Ông ta già, yếu thành ra bị nặng lắm. Không có hy vọng gì; nhưng hôm nay sẽ đưa ông ta vào bệnh viện để được tiện nghi hơn."

Hôm sau bác sĩ bảo Sue:

"Cô ấy qua cơn nguy rồi. Cô đã thắng. Giờ chỉ cần ăn uống và tịnh dưỡng là đủ."

Chiều hôm đó, Sue đến bên Johnsy đang nằm trên giường bệnh, thắt lại chiếc khăn len quàng cổ màu thật xanh, quàng tay ôm lấy bạn, rồi ôm chiếc gối, tần mần tẩn mẩn...

"Mình có chuyện này muốn nói với bạn, con chuột bạch à." Cô ta nói. "Cụ Behrman đã mất trong bệnh viện ngày hôm nay vì bị viêm phổi. Cụ mắc bệnh chỉ có hai ngày. Hôm đầu tiên ông quản gia tìm thấy cụ nằm trong phòng có vẻ đau đớn lắm. Giày dép, quần áo cụ ướt sũng và lạnh như đá. Họ không tưởng tượng ra được cụ ấy đi đâu, làm gì trong một đêm gió mưa khủng khiếp như vậy. Sau đó họ tìm thấy chiếc đèn lồng vẫn còn cháy sáng, một chiếc thang được kéo lê ra từ trong kho, mấy chiếc cọ còn dính sơn và một hộp sơn pha trộn hai thứ màu xanh và vàng. Và bạn thử nhìn ra ngoài cửa sổ kia, nhìn vào chiếc lá nho cuối cùng trên bức tường đó. Bạn không cảm thấy ngạc nhiên là tại sao nó chẳng lung lay động đậy gì trong cơn gió à? Nhỏ ơi, nó chính là cái tác phẩm lớn của cụ Behrman đó. Cụ đã vẽ nó vào cái đêm chiếc lá nho cuối cùng rơi xuống."

O. Henry, bản dịch của Nguyễn Cao Nguyên

Sắc màu

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook


Chủ thể bức ảnh này là "Màu Sắc". Tôi đã kiên trì đi bộ chung quanh và tự dưng thấy những chiếc lá có vẻ đẹp một cách độc đáo, cùng với chỉ khoảng 3, 4 màu sắc tách biệt. Một cách nào đó, có thể chụp được một bức ảnh đẹp, nhưng tôi không chỉ muốn nói có vậy.

Đây sẽ chỉ là "Ồ.., ừ, đã có chiếc lá này ở đó.", hay là cả một câu chuyện?

Hòn đảo của bác sĩ Moreau (22)

0 ý kiến, và ý kiến từ facebook

Rốt cuộc bài hát đã kết thúc. Tôi đã thấy gương mặt chàng người-khỉ sáng rỡ cùng với mồ hôi; và những con mắt tôi bây giờ đã tập cho quen với bóng tối, tôi đã thấy rành mạch hơn hình dáng trong góc từ đấy giọng nói đã đến. Nó đã có kích thước của một con người, nhưng cái đấy đã hóa ra là được che phủ bằng một mớ tóc màu xám ụ ị gần như một con chó lùng sục Skye. Đây là cái gì? Tất cả bọn chúng là cái gì? Hãy hình dung chính bạn đã bị bao quanh bởi tất cả những người què quặt và điên khùng kinh khủng nhất cái đấy là khả thi để tưởng tượng, và bạn có thể hiểu một chút về những cảm giác của tôi cùng với những bức vẽ biếm hoạ kỳ cục này của loài người xung quanh tôi.

"Nó là một người-năm, một người-năm, một người-năm giống tôi," chàng người-khỉ nói.

Tôi đã chìa ra những bàn tay tôi. Sinh vật xám trong góc cúi về phía trước.

"Không chạy bằng bốn chân; đấy là Luật. Chúng ta không phải người?" Nó đã nói.

Nó đưa ra một cái móng lạ lẫm bị bóp méo và đã kẹp chặt những ngón tay tôi. Thứ đấy đã là hầu như giống với móng guốc của một chú hươu đã chế tạo thành những móng vuốt. Tôi đã có thể la hét cùng với sự bất ngờ và đau đớn. Gương mặt của nó đã nhô về phía trước và đã săm soi tại những móng tay tôi, đã nhô về phía trước vào ánh sáng của khe hở của căn lều và tôi đã thấy cùng với một sự ghê tởm run rẩy là đấy đã như một khuôn mặt người không ra người thú vật không ra thú vật, mà chỉ là một mớ lông xù màu xám, cùng với ba vòm pa-ra-bôn tối để đánh dấu cặp mắt và mồm.

"Nó có những cái móng nhỏ," sinh vật rùng rợn này đã nói trong hàm râu rậm rạp của nó. "Thế là tốt."

Nó đã ném tay tôi xuống, và một cách bản năng tôi đã kẹp chặt cây gậy của tôi.

"Ăn rễ cây và thảo mộc; đấy là nguyện vọng Của nó," chàng người-khỉ nói.

"Tôi là Người Nói Luật," hình dáng xám đã nói. "Tất cả những ai đến đây là người mới để học Luật. Tôi ngồi trong bóng tối và nói Luật."

"Cái đấy là đúng như vậy," Đã nói một trong số thú vật trên khung cửa.

"Quỷ dữ là những sự trừng phạt đối với ai phá vỡ Luật. Không ai trốn thoát."

"Không ai trốn thoát," Con-Vật-Người đã nói, liếc qua ngấm ngầm lẫn nhau.

"Không có ai, không có ai," chàng người-khỉ đã nói, - “không ai trốn thoát. Thấy đấy! Tôi đã làm một thứ nhỏ, một thứ sai, một lần. Tôi đã nói lúng búng, đã nói lúng búng, đã dừng nói. Không có gì đã có thể hiểu. Tôi đã bị đóng dấu sắt nung vào tay. Nó là tuyệt vời. Nó là tốt!"

"Không ai trốn thoát," sinh vật màu xám trong góc đã nói.

"Không ai trốn thoát," những Con-Vật-Người đã nói, nhìn xéo lẫn nhau.

"Với mỗi người mong muốn cái đấy là xấu," Người Nói Luật màu xám nói. "Cái bạn sẽ muốn chúng tôi không biết; chúng tôi sẽ biết. Ai đó muốn đi theo các thứ xê dịch, để theo dõi và lẻn lút và chờ và nhảy lên; để giết chết và cắn, cắn sâu và bổ béo, mút máu. Cái đấy là xấu. Không săn đuổi Người khác; đấy là Luật. Chúng ta không phải Người? Không ăn Thịt hoặc Cá; đấy là Luật. Chúng ta không phải Người? '".

"Không ai chốn thoát," Đã nói một súc vật chấm lốm đốm đứng trong khung cửa.

"Với mỗi người mong muốn là xấu," Người Nói Luật màu xám nói. "Ai đó muốn để đi xé rách cùng với những cái răng và những bàn tay vào những gốc cây rễ cây, làm chúng chết vào đất. Đấy là xấu."

"Không ai trốn thoát," Đã nói những người trên cánh cửa.

"Ai đó cào những cái cây; ai đó bới những nấm mồ của những người chết; ai đó đánh nhau bằng trán hoặc bằng chân hoặc bằng móng vuốt; ai đó cắn trộm, không báo trước; ai đó thích sự dơ bẩn."

"Không ai trốn thoát," chàng người-khỉ nói, gãi da mình.

"Không ai trốn thoát," sinh vật-con lười màu hồng nhỏ nhắn nói.

“Sự trừng trị là sắc bén và chắc chắn. Vì vậy hãy học Luật. Hãy nói những từ ngữ."

Và một cách không thể kiềm chế được nó đã bắt đầu một lần nữa kinh cầu nguyện xa lạ của Luật, và một lần nữa tôi và tất cả những sinh vật này đã bắt đầu hát và lắc lư. Đầu tôi đã quay cuồng cùng với lời nói lúng búng này và mùi hôi thối ngột ngạt ở đây; nhưng tôi đã tiếp tục, tin tưởng để tìm được cơ hội ngay lập tức nào đó của một sự tiến triển mới.

"Không đi bằng bốn chân; đấy là Luật. Chúng ta không phải Người?"

Chúng tôi đã làm ồn như vậy là tôi đã không nhận gì từ sự ồn ào ở bên ngoài, cho đến khi một ai đó, người tôi nghĩ đã là một trong số hai Người-Lợn mà tôi đã thấy, thò đầu nó lên trên sinh vật-con lười màu hồng nhỏ nhắn và đã hét một cái gì đó xúc động, một cái gì đó tôi đã không nghe rõ. Ngay tức thì những “người” đứng ở khe hở của căn lều đã lẩn đi; Chàng người-khỉ của tôi đã xông ra; thứ cái đấy ngồi trong bóng tối đã đi theo nó (tôi chỉ quan sát là nó đã là lớn và vụng về, và che phủ cùng với tóc óng ánh như bạc), và tôi đã bị bỏ lại một mình. Sau đó trước khi tôi đã tiếp cận khe hở tôi đã nghe tiếng kêu ăng ẳng của một con chó săn hươu.

Ngay sau đó tôi đã đứng bên ngoài căn lều, tay vịn ghế của tôi trong tay tôi, mỗi bắp thịt của tôi run rẩy. Trước mặt tôi đã là những cái lưng vụng về của có lẽ là nhiều những Con-Vật-Người này, những cái đầu méo mó của chúng một nửa đã che dấu bởi những bờ vai chúng. Chúng đã khoa chân múa tay một cách xúc động. Những bộ mặt nửa-động-vật khác nhìn trường trừng một cách dò hỏi ở ngoài những căn lều. Nhìn theo phương hướng về phía chúng đang đối mặt, tôi đã thấy trong sương mù dưới những cái cây tận phía bên kia đầu lối đi của những căn lều hình dáng tối sẫm và gương mặt trắng uy nghi của Moreau. Ông ta đã giữ con chó săn hươu nai nhảy qua lại, và ngay đằng sau ông ta Montgomery đi tới với một khẩu súng lục ổ quay trong tay.

Trong một khoảnh khắc tôi đã đứng im vì kinh hãi. Tôi đã quay lại và thấy lối đi ở đằng sau tôi đã bị chặn bởi một súc vật nặng khác, cùng với một gương mặt màu xám khổng lồ và lóng lánh những con mắt nhỏ, thúc đẩy về phía tôi. Tôi đã nhìn xung quanh và đã thấy ở phía bên phải tôi và cách khoảng sáu thước Anh về phía trước mặt một cái lỗ hổng hẹp trong bức tường đá qua cái đấy một tia sáng đã chiếu chếch vào những bóng tối.

"Dừng lại!" Moreau đã kêu lên khi tôi sải bước về phía chỗ đấy, và sau đấy, "Giữ anh ta lại!"

Tại cái đấy, một gương mặt đầu tiên đã quay về phía tôi và sau đấy là những khuôn mặt khác. Những trí não có tính súc vật của họ may là đã chậm chạp. Tôi đã xô mạnh vai tôi vào một quái vật vụng về kẻ đang quay lại để thấy cái Moreau muốn nói, và đã ném nó về phía trước vào một tên khác. Tôi đã cảm thấy những bàn tay nó bay xung quanh, giữ chặt vào tôi và vồ trượt tôi. Sinh vật-con lười màu hồng nhỏ nhắn đã lao vào tôi, và tôi đã làm vết rạch xuống gương mặt phản cảm của nó bằng cái đinh ở cây gậy của tôi và ngay phút sau tôi đã bò trườn lên một lối mòn phẳng dốc ngược, một kiểu ống khói nghiêng, ở ngoài khe núi. Tôi đã nghe một tiếng thét lên ở đằng sau tôi, và những tiếng hô hoán "Bắt anh ta!" "Giữ anh ta lại!" Và sinh vật mặt màu xám đã xuất hiện ở đằng sau tôi và đã mắc kẹt thân hình to lớn khổng lồ của nó vào khe. "Tiếp tục! Tiếp tục!" Chúng đã gào lên. Tôi đã leo trèo lên đường nứt hẹp trong đá và đã ra tới trên lưu huỳnh ở phía về hướng tây của làng những Con-Vật-Người.

Khe hở này đã là hoàn toàn tốt số đối với tôi, vì ống khói hẹp, nghiêng xiên lên trên, phải đã cản trở những người đuổi bắt đang tới gần hơn. Tôi đã chạy qua không gian màu trắng và xuống một chỗ sườn dốc dốc xuống, qua một sự phát triển lác đác của những cái cây, và đã đến tới một quãng thấp của những cây sậy cao, qua chỗ đấy tôi đã xô vào một tầng cây thấp tối, dày cái đấy đã là màu đen và ngon mọng ở dưới chân. Khi tôi đã ngập vào những cây sậy, những người đuổi bắt đầu tiên của tôi đã hiện lên từ kẽ hở. Tôi đã rẽ lối của tôi qua tầng cây thấp này trong vài phút. Không khí ở đằng sau tôi và xung quanh tôi đã lập tức đầy những tiếng la hét cảnh báo. Tôi đã nghe tiếng om sòm của những người đuổi theo tôi trên lỗ hổng lên chỗ dốc, sau đấy là tiếng đổ sầm của những cây sậy, và mỗi lúc này lúc khác sự đổ gãy kêu răng rắc của cành cây. Vài trong số sinh vật đã gầm lên như những con thú bị kích động bởi con mồi. Giống chó săn hươu nai đã kêu ăng ẳng về phía bên trái. Tôi đã nghe Moreau và Montgomery hét trong cùng một phương hướng đấy. Tôi đã rẽ gấp về phía phải. Nó đã hóa ra tới tôi thậm chí vào lúc đấy là tôi đã nghe Montgomery hét gọi bảo tôi chạy đi vì sự sống của tôi.

Ngay lúc này mặt đất đã lún sâu và đầy bùn dưới chân tôi; nhưng tôi đã liều mạng và đã đi một cách liều lĩnh vào cái đấy, đã vật lộn qua chỗ sâu đến tận đầu gối, và rồi đã đến tới một đường lối lộng gió giữa những cây lau cao. Tiếng ồn của những người đuổi bắt của tôi đã chuyển qua xa ra về phía bên trái tôi. Ở một chỗ có ba động vật lạ lùng, màu hồng, nhảy cẫng lên, kích thước khoảng bằng những con mèo, đã bỏ chạy trước những bước chân của tôi. Lối mòn này đã chạy lên quả đồi, xuyên qua không gian mở khác nữa đã che phủ cùng với lớp vỏ màu trắng, và lại ngập vào vào một bãi lau sậy một lần nữa. Rồi bất ngờ cái đấy đã rẽ song song với gờ của một kẽ hở làm thành bức tường dốc ngược, cái đấy đã đến mà không có cảnh báo, như hàng rào thấp của một công viên Anh, - đã rẽ cùng với một sự vội vã đột xuất. Tôi vẫn còn chạy cùng với tất cả sức lực của tôi, và tôi chưa bao giờ thấy khoảng rơi này cho đến khi tôi đã bay lao đầu xuống vào không khí.

Tôi đã rơi trên những cẳng tay và cái đầu của tôi, giữa những gai góc, và đã trở dậy cùng với một vành tai đã bị rách và gương mặt chảy máu. Tôi đã rơi vào một cái hẽm núi dốc ngược, đá cứng và lởm chởm, phủ đầy một đám sương mù tù mù cái đấy đã trôi xung quanh tôi thành từng mớ, và cùng với một dòng suối nhỏ hẹp từ chỗ đấy sương mù này đã ngoằn ngoèo uốn khúc xuống trung tâm. Tôi đã ngạc nhiên thấy sương mù mỏng mảnh này trong ánh sáng rực rỡ đầy đủ của ánh sáng ban ngày; nhưng tôi đã không có thời gian để đứng mà tò mò lúc đấy. Tôi đã rẽ sang phải, xuôi dòng, hy vọng đến được biển ở phương hướng đấy, và như vậy sẽ có lối của tôi mở ra để tự dìm mình chết đuối. Đấy là phương cách duy nhất còn lại khi tôi nhận ra là tôi đã đánh rơi cây gậy có đinh của tôi lúc tôi rơi.

Ngay lập tức khe núi đã trở nên chật hẹp hơn cho một không gian, và một cách cẩu thả tôi đã bước đi vào dòng suối. Tôi đã nhảy phóc ra một lần nữa hơi nhanh, vì nước đã hầu như nóng sôi. Tôi cũng đã nhận ra là đã có một lớp váng bọt lưu huỳnh mỏng mảnh trôi ở trên mặt nước quanh co của nó. Hầu như ngay lập tức đã gặp một chỗ rẽ trong khe núi, và chân trời xanh mơ hồ. Biển trở nên gần hơn đã lóe sáng ánh mặt trời từ vô số các mảnh phản chiếu. Tôi đã thấy cái chết của mình ở ngay trước mặt; nhưng tôi đang nóng bức và thở hổn hển, cùng với dòng máu ấm áp vẫn rỉ ra trên khuôn mặt và vui vẻ vận động trong những mạch máu của tôi. Tôi cũng đã cảm thấy hơn là một sự động chạm của niềm hân hoan, vì đã tạo được khoảng cách với những người đuổi theo tôi. Cái đấy đã là không phải trong tôi lúc đấy để đi ra và trầm mình ngay. Tôi đã nhìn chằm chằm lại lối tôi đã đến.

Tôi đã nghe. Lẫn trong tiếng vo ve của những con muỗi nhỏ và tiếng hót líu lo của những con côn trùng bé tí nào đó cái đấy đã nhảy lò cò giữa những gai góc, không khí đã là tuyệt đối tĩnh mịch. Rồi đã vẳng đến tiếng kêu ăng ẳng của một con chó, rất yếu ớt, và tiếng ríu rít và tiếng lắp bắp, tiếng đớp của một cái roi da, và những giọng nói. Họ đã trở nên ầm ĩ hơn, sau đấy lại xỉu đi một lần nữa. Tiếng ồn đã lùi dần ra xa dòng suối và đã mất dần ra xa. Trong khoảnh khắc sự săn đuổi đã qua rồi; nhưng tôi đã biết bây giờ bao nhiêu hy vọng của sự giúp đỡ cho tôi đều nằm ở những Con-Vật-Người.

(to be cont.)